Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2009

Bánh trung thu Sàigòn nay đã khác xưa


October 02, 2009


Nguyễn Thị Lan Anh-Việt Tribune

Việt Nam ta, có nhiều tục lệ lai Tầu, mà tục ăn tết Trung thu là một. Trong sách Việt Nam phong tục, Phan Kế Bính cho rằng nhân ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng bên Tầu, vua cao hứng, cùng Dương Quý phi thưởng trăng, múa hát, bày tiệc yến ẩm vui vẻ. Cả kinh thành treo đèn kết hoa lộng lẫy. Từ đó về sau, vào dịp tháng Tám âm lịch, giữa mùa thu, dân gian giữ lệ treo đèn, tụ họp gia đình (đoàn viên) ngắm trăng, ăn bánh làm bằng bột nắn hình tròn (viên) như mặt trăng (âm chữ ‘viên’ trong tiếng Tầu, vừa có nghĩa là tròn, vừa có nghĩa đoàn tụ).

Bánh Trung thu Givral, thương hiệu có ở Sài Gòn từ những năm 50 thế kỷ trước. Photo Nguyễn thị Lan Anh/Việt Tribune

Sang Việt Nam, nguyệt bính (bánh thưởng nguyệt) ngoài hình tròn, được cải biến thành hình vuông. Tục treo đèn thành ra rước đèn, múa sư tử của trẻ con. Chiếc đèn không chỉ mỗi hình con cá như đời Tống, đời Đường mà thêm nhiều hình mới – hình ông sao, con thỏ, con tôm, con bướm… Tối trung thu, trong khi đường phố lung linh trăm ngàn đèn lồng, tiếng trống múa sư tử khua inh ỏi, tiếng trẻ con hát hò rộn rang… thì trong tư gia các nhà ‘phú quí sinh lễ nghĩa’ ở Hà Nội cũng bày tiệc thưởng trăng với hoa quả, bánh trái tỉa tót công phu, ngầm khoe tài nữ công gia chánh của con gái với các chỗ quen biết đang kén dâu. Từ bao năm qua, tục trung thu ở ta, đại khái là vậy. Sang đầu thế kỷ XXI, trong thành phố công nghiệp, trăng bị quên lãng, ánh trăng bị nhà cửa lô xô che khuất. Tết trung thu ngắm trăng, phá cỗ cúng trăng, ăn bánh hình trăng thành ra vô nghĩa. Đã vậy tết Trung thu ở miền Nam Việt Nam, cụ thể ở Sài Gòn, luôn trúng vào mùa mưa. Đêm trung thu, mười lần hết chín là mưa. Trẻ con ngồi nhà coi ti vi, chơi game hoặc còng lưng mờ mắt học bài làm bài. Chiếc đèn giấy bóng kiếng đỏ hình cá chép hay đèn nhựa Trung Quốc hình siêu nhân nằm lăn lóc đâu đó, cùng với hộp bánh Trung thu hết để ruồi bâu kiến đậu lại tống vào tủ lạnh. Ai cũng cảm nhận Tết Trung thu ‘ngọt’ như nước lã nhưng chưa dám khai tử nó vì người kinh doanh bánh kẹo, nhờ vụ bánh Trung thu (và vụ mứt tết) mà sống cả năm, người làm ăn, giao thiệp rộng, nhờ bánh Trung thu có thể kiếm được mối hàng, bôi trơn được thủ tuc, cải thiện được tình cảm đối phương, đánh bóng tên tuổi, thương hiệu mình.…

Đa dạng bánh Sài Gòn nay

Bánh giả (bên phải) có bao bì khá giống bánh thực (bên trái).Người mua không cẩn thận, sẽ bị người bán tráo bánh giả vào hộp bánh thật. Photo Nguyễn thị Lan Anh/Việt Tribune

Dạo qua thị trường bánh trung thu Sài Gòn năm nay, nếu nhìn lướt qua dãy tủ kính bày đầy bánh nướng bánh dẻo trang hoàng đỏ rực trên đường Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng, Nguyễn Đình Chiểu, Xô Viết Nghệ Tĩnh hay trong nhà hàng Đồng Khánh, Givral, khách sạn New World, Equatorial sang trọng, người ta dễ có cảm nhận bánh Trung thu vẫn không khác trước dù kích cỡ, trọng lượng và hình thức bao bì bên ngoài rất bắt mắt. Nhưng đến khi nghe giới thiệu sản phẩm và được mời thử bánh, nhận xét ‘bánh nay y như xưa’ nhanh chóng biến mất. Khách đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác trước sự đa dạng cực kỳ của thế giới bánh trung thu, nói đúng hơn là thế giới nhân bánh nướng trung thu. Nếu nhà Phúc Long có nhân trà xanh cà phê, nhà Thành Long nhân đậu xanh- gấc- bắp tươi thì Maxim’s Bakery có nhân hạt dẻ hạnh nhân, New World có nhân chocolate- dâu- rượu.
…
Trái với dự đoán có phần bi quan của giới quan sát, tất cả nhà sản xuất, kinh doanh bánh Trung thu đều hoan hỉ thông báo sản lượng tăng so với năm ngoái. Giữ ngôi đầu bảng là nhãn hiệu bánh Kinh đô, với 1,600 tấn bánh tung ra thị trường, tăng 10%. Bibica 400 tấn bánh, tăng 30%, Đồng Khánh xuất xưởng 300,000 bánh, tăng 10%, ACB tăng 10%...Giá bán, trừ nhà Bibica – do trữ được nguồn hàng sớm – không tăng, còn lại đều tăng từ 5% tới 15% do hai nguyên liệu làm bánh chính là đường và lòng đỏ trứng muối đều lên giá từ đầu vụ. ‘Khách càng ngày càng khó chiều. Đòi hỏi đủ thứ. Nào là phải không được ngọt, không nhiều mỡ, nguyên liệu phải sạch, chế biến phải bằng dây chuyền công nghệ tiên tiến, bảo quản phải trong môi trường chân không mà giá bán phải không được mắc. Bánh nướng jambon bát bửu hai trứng nặng 250 gam, giá 54.000 đồng, bánh nướng gà quay, vi cá, hai trứng, nặng 250 gam giá 65.000 đồng, bánh dẻo dành cho người tiểu đường loại hạt sen, trà xanh, một trứng, nặng 180gam, giá 30.000 đồng tương đối được hỏi mua nhiều nhất’, chị Hoà, đại lý bánh Bibica khu vực Lăng Cha Cả cho biết như vậy. Ông Xiển, nhiều năm trung thành với nhãn hiệu bánh Kinh Đô nhận xét ‘năm nay làm ăn khó khăn, bánh mua biếu khách VIP, chỉ bốn năm trăm ngàn là mắc nhất. Kinh Đô có dòng sản phẩm Trăng Vàng cao cấp. Bibica có Thưởng Nguyệt, Kim Nguyệt, Đế nguyệt…
Các lò bánh vô danh hầu như không có ‘cửa’ ở trung tâm thành phố. Họ dạt ra ngoại thành hay vùng sâu vùng xa treo bảng ‘mua hai tặng một’, ‘đại hạ giá’ khiến các thượng đế ít tiền mê tít mắt. Một ‘ác chiêu’ đặc biệt phát triển năm nay của các lò bánh bất lương là nhái bao bì nhà bánh lớn, rồi gửi đại lý nhà bánh này tiêu thụ hộ với tỷ lệ cưa đôi 50-50. Trong vai người đại diện trường tiểu học Kim Đồng đi chọn mẫu bánh, kẻ viết bài la cà khu vực Phú Nhuận, cầu Bông, chợ Đa Kao…đã tận mắt chứng kiến thủ thuật tráo bánh của một đại lý Kinh Đô. Biết khách đang vội, mua xong mang đi biếu ngay, lợi dụng lúc họ sơ ý, chị đại lý nhanh nhẹn lấy mấy chiếc bánh ‘trời ơi đất hỡi’ để vào hộp, cho vào túi xách, tặng thêm gói trà khuyến mãi. Tính tiền, thối tiền đều nhanh chóng, tươi cười. Khách hài lòng, phóng xe đi, không hay biết trong ba hộp bánh Kinh Đô, hết một phần ba là bánh kém chất lượng được tráo vào. ‘Bán kiểu đó rất lời nhưng ma bắt phải coi mặt, phải chọn lúc tối, khách đông, chọn người mua vội đi biếu’. Nghe chị đại lý cung khai mánh lới, tuy không là thầy bói, kẻ viết bài cũng thấy trước tương lai ’sáng như đêm ba mươi’ của nhà kinh doanh ‘chưa doanh đã kinh’ này.

Trả lời câu hỏi ăn bánh trung thu vào lúc nào, có người khẳng định ‘phải đúng rằm mới có ý nghĩa’, có người lại khăng khăng ‘muốn ăn, là phải ăn hồi tháng Bảy, lúc đó bánh mới ra, bảo đảm chất lượng’. Với đa số người lao động, thu nhập ít thì ‘có lúc nào làm lúc ấy, ai biếu thì ăn, chứ không mua vì năm chục ngàn một cái, nhà con đông ăn mấy cái cho đủ, trong khi cũng số tiền đó nấu nồi chè hay đổ bánh xèo thì vừa ngon lại vừa no’. Chuyện ‘há miệng chờ sung’ của những người này, mừng thay thường là có hậu. Vì chỉ cần trong họ có một người làm quản lý, hiệu trưởng, bác sĩ, giám đốc…bảo đảm sẽ bội thu bánh biếu. Người ta chỉ để một hai hộp ngon nhất ăn chơi, còn thì ‘phát chẩn’ hết.

Nhớ bánh Hà Nội xưa

Bị liệt vào hạng nghèo, ông cụ Ngọ 80 tuổi được đám con cháu đẩy cho hai hộp bánh Trung thu. Cắt chiếc bánh dẻo, bánh nướng nếm qua, ông cụ nhăn mặt lắc đầu, rồi tự mình ra chợ Bến Thành mua lẻ nhân bánh, bột bánh, khuôn bánh, giấy gói, hộp đựng…về nhà làm lấy. Ở Sài Gòn những người cầu kỳ, khó tính như cụ, không ít. Được biết, cụ Ngọ từng là thành viên của tiệm bánh kẹo Đức Thịnh số 7 phố Hàng Đường Hà Nội những năm 50 thế kỷ trước, kẻ viết bài bám theo hỏi chuyện. Có người gợi chuyện xưa, ông cụ vui vẻ kể:

‘Hà Nội xưa, bánh bán theo cân, nhưng là cân ta, chừng 600 gam. Một cân bốn chiếc bánh, mỗi chiếc độ 150 gam, xẻ tư, ăn vừa ngon thì đã hết, gây cảm giác thòm thèm. Không có chuyện mới từ rằm tháng Sáu, tháng Bảy đã rầm rộ trưng bảng như bây giờ mà phải đầu tháng Tám phố Hàng Đường mới đồng loạt ‘ra quân’. Ngoài phố Hàng Đường tập trung tiệm bánh kẹo lớn thì rải rác khắp Hà Nội, chỗ nào cũng bán bánh trung thu. Các tỉnh huyện cũng có, nhưng đựng trong hộp ‘bế’ bằng nan tre, phết giấy chứ không có hộp carton.

Bánh dẻo quan trọng nhất ở vỏ bánh. Chỉ là bột nếp đã rang chín nhồi với nước đường nhưng rất khó đạt tới độ vừa. Ít nước thì khi ép khuôn, bánh không xệ, các hoa văn giữ được vẻ sắc sảo lâu, nhưng ăn khô, cứng. Hơi quá nước thì dễ nhồi nhưng khi ép bánh bị dính khuôn, hoa văn trên mặt bánh dễ mờ, để lâu bị mốc. Bánh nướng không dùng vỏ bánh bằng bột nếp, mà dùng bột mì pha chút bột tẻ, sau đó cũng nhồi với nước đường. Thắng nước đường tiếng là dễ nhưng không phải ai cũng thắng được Thắng non, bánh chảy, thắng già khi nhồi bột sẽ cứng. Nước dùng thắng đường phải là nước mưa, thắng xong không dùng ngay mà để đường ‘nghỉ’ hai ba tuần sau mới được dùng. Đấy là vỏ bánh. Nói sang nhân bánh thì đại khái nó là một thứ tả pí lù gồm ngũ hạt (hạt trám, hạt điều, hạt hạnh nhân, hạt dưa) mứt bí, lạp xưởng, mỡ lợn, lòng đỏ trứng muối, mè, vỏ chanh muối, lá chanh, gừng……Những thứ này không để sống sít – cái nào phải rang thì rang lên, cái nào luộc, sên thành mứt, cái nào xắt hạt lựu, sắt sợi, giã nhỏ, đập dập……đều làm riêng ra từng thứ. Xong xuôi xào chung với nước đường, thêm bột cho sền sệt rồi vo viên, cho vào chính giữa miếng bột bánh dàn mỏng, túm miệng kín lại, ép khuôn, cho vào lò nướng. Nếu chiếc bánh nướng nặng 250 gam, bột bánh chỉ chiếm 70 gam. Nếu bánh dẻo thì 50- 50 hoặc bột bánh 100 gam, ruột bánh 150 gam. Tùy theo sự có mặt hay vắng mặt của một vài nguyên liệu trong ruột bánh mà có các loại bánh khác nhau. Trung bình bánh dẻo có chừng chục loại. Bánh nướng hai chục loại. Sau mỗi vụ Trung thu bánh thừa sẽ được biến chế ra các loại bánh khác chứ không để hư mốc rồi bán đại hạ giá cho người nghèo.

Một quầy bánh Trung thu được trang hoàng khá đẹp bên ngoài siêu thị Big C. Photo Nguyễn thị Lan Anh/Việt Tribune

Giá thành một chiếc bánh, nói giả dụ là 10.000 đồng, thì giá bán là 20.000 đồng, một lời một. Lời chỗ nào ư? Thứ nhất lời giá bán. Tiếng là một cân, nhưng là cân ta, có 600 gam. Thứ hai lời nguyên liệu, toàn mua sỉ, giá rẻ, không trả tiền ngay, sau vụ bánh mới trả. Mà nguyên liệu cũng năm bảy đường, mua loại rẻ vẫn ‘hô lên’ là thượng hảo hạng…… Rồi tới lời nhân công. Mùa bánh, thợ ở Hoài Đức, Thanh Oai – Hà Đông kéo ra. Ai năm ngoái làm cho Đức Thành Long, Đức Thành Ký (Phố Huế) hay cho Đức Thịnh (Hàng Đường) thì năm nay lại tới đúng những tiệm đó mà đầu quân. Ăn ở tại nhà chủ, làm đêm làm ngày, hết vụ, được mỗi người hai cân bánh biếu và ‘một cục tiền’ mang về. Đầu tháng Chạp lại lên làm vụ tết. Trừ thợ chính lương cao, còn thợ trung bình, thợ sai vặt, công xá chỉ hơn công cấy hái ở nhà quê một ít. Chủ tiệm bánh nhà ngay mặt phố Hà Nội, buôn bán một vốn bốn lời như thế nên mỗi năm chỉ hai vụ bánh trung thu, mứt tết mà sống rất ung dung…

Nếm thử tấm bánh dẻo của người con trai ông chủ tiệm Đức Thịnh phố Hàng Đường xưa, mùi nước hoa bưởi thoang thoảng, bột bánh dẻo vừa, vị ngọt thanh, nhân bánh thập cẩm xào kỹ, bánh cắt làm tám miếng, miếng nào cũng mịn, chắc, đủ ngũ hạt chen lẫn lạp xưởng, trứng muối, nét mặt đám hậu sinh ngơ ngẩn hẳn. Một anh cu ngoài ba mươi tuổi nhận xét, khác hẳn bánh mua! Khác chỗ nào? Không biết, chỉ biết khác lắm! Đã thế thì thế này……Mỗi tiếng ‘thế này’ của cụ Ngọ đám con cháu lại vui vẻ chạy đi. Đứa vào làng đèn Phú Bình mua đèn giấy bóng kính, đứa tìm người nặn tò he, đặt lấy vài chục loại con giống xanh đỏ bằng bột gạo, đứa mua bưởi, hồng, nho, nhãn, đứa ‘thu gom’ trẻ con các nơi về, càng đông càng tốt, đứa làm chú Cuội, chị Hằng, Thỏ Ngọc tập hát Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to…… Tết trung thu rước đèn đi chơi…… Tất cả cứ sôi lên, chạy tíu tít như đèn cù. Trong vai trò ‘đại đầu têu’, ông cụ 80 tuổi bỗng trẻ lại, linh hoạt hẳn. Cụ bảo, trong nước hay ngoài nước, ở xa hay ở gần, nếu còn nhớ trăng thu, nhớ nhau, thì tấm bánh, trò vui, mâm cỗ ở đâu cũng ngon, cũng đẹp, cũng đáng trân trọng như nhau. Bầy vẽ ra không phải là ‘phú quý sinh lễ nghĩa’ mà sinh những thứ thiêng liêng hơn thế nhiều. Có điều nhận ra nó, gọi nó bằng cái tên gì, thì còn tùy người.[NTLA]

****************************

source

Viet Tribune Online

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2009

Một ngày Vu Lan ở Sài Gòn


September 04, 2009


Nguyễn Thị Lan Anh-Việt Tribune

Hướng dẫn nhóm bạn vừa Mỹ rặt vừa Mỹ lai đi xemVu Lan Sài Gòn – dù chỉ một ngày ngắn ngủi, đối với kẻ viết bài không dễ chút nào vì các bạn cứ đòi ‘dĩ lễ vi tiên, dĩ hội vi thứ, dĩ thực vi hậu’, dịch nôm là đi chùa trước hết, kế tới tham dự vài nghi thức, tục lệ lễ Vu lan, cuối cùng mới nếm thử đồ chay.

Khách ăn buffet chay ở nhà hàng Vân Cảnh.Photo NTLANH/Việt Tribune

Đi chùa
Sài Gòn có nhiều cơ sở thờ tự ở lẫn với khu dân cư, rất tiện cho việc lễ bái của Phật tử lớn tuổi ngại xe cộ đường xá. Ngoài các chùa cổ Việt-Hoa có tiếng trước đây, các chùa mới sau này đều to rộng, mái chùa cong vút, chạm trổ cầu kỳ bằng xi măng. Vài chùa ‘xi măng hóa’ khá đẹp là chùa Vĩnh Nghiêm quận 3, chùa Phổ Quang quận Tân Bình và chùa Kim Sơn quận Phú Nhuận. Năm nay, để đón mừng đại lễ Vu Lan, chùa trên địa bàn Sài Gòn, dù theo hệ phái Phật giáo nào, đều trang hoàng cờ hoa lộng lẫy, làm lễ đài trang nghiêm. Đi lễ chùa nhỏ trong xóm ấp, không khí trang nghiêm, thân tình. Khách và trụ trì chùa đều biết nhau. Các chùa lớn không được vậy. Ngoài sân chùa, trong chính điện chỗ nào cũng rác và nhang khói mù mịt. Khách thản nhiên mang giầy dép vào nơi hành lễ, vô hình trung các động tác quì lạy đều miễn hết. Người ta đứng rì rầm ‘tâm sự’ với Phật tổ, huơ huơ bó nhang to như bó củi,’cuốc’ sơ sơ mấy nhát rồi ‘chôn’ luôn vào lư hương. Khói cuộn lên như khói cháy nhà. Nước mắt nước mũi trào ra
May sao, ngoài sân chùa, không khí dễ thở hơn. Các em nhỏ trong Gia đình Phật tử ríu rít mời chào những bông hoa cài áo. Hai ngàn đồng một bông hoa bằng giấy – hoa trắng cho người mất mẹ, hoa đỏ cho người còn mẹ. Rất mừng, năm nay, mầu hoa đỏ tràn ngập sân chùa Vĩnh Nghiêm, Dược Sư, Xá Lợi, Phổ Quang tạo nên một cảnh rất cảm động.
Đám bán chim cá phóng sinh ‘đến hẹn lại lên’ ngồi thành dãy trong sân chùa. Chim sẻ phóng sinh ba chục ngàn mười con vẫn có nhiều người mua nhưng không đắt hàng bằng cá. Muốn mua cá, chỉ cần gọi điện thoại trước. Đúng hẹn, ‘nhà cá’ có mặt, giao hàng. Năm chục ngàn một ký cá rô, cá bống nhỏ (trên 60 con) đựng trong thùng hay bọc nilon. Người phóng sinh thuê thuyền, đem cá ra giữa giòng trút xuống. Thế là xong! Suốt tháng Bảy – đông nhất là ba ngày 14, 15, 16 – bến cá chùa Diệu Pháp không lúc nào ngớt người lui tới. Chỗ này xếp mấy bọc cá bảy mầu, chỗ kia hai giỏ cá trê, sát bực lên xuống sông, hơn chục thùng sắt vuông đầy lươn, ếch, cá bống. Ông lái đò cho thuyền ra vào liên tục. Ông cho biết lúc cao điểm mình ông thả vài tấn cá các loại là thường.

Kinh sách – cải lương
Đứng trước rừng sách báo, tranh thư pháp, băng đĩa nhạc, đồ thờ tự, trang sức, áo tràngbán trong phòng kinh sách thiền viện Vạn Hạnh, chùaVĩnh Nghiêm, chùa Phổ Quangkhách đi lễ hoa mắt vì so với trước, những thứ hỗ trợ cho người đi tu quá phong phú, mua sắm quá dễ dàng.
Món quà tặng được chọn lựa nhiều nhất năm nay, có lẽ là tiểu phẩm Bông Hồng Cài Áo của thiền sư Thích Nhất Hạnh do nhà xuất bản Thanh Niên tái ấn hành. Nhớ lại đâu hồi 40 năm trước, khi mới ra mắt lần đầu, tiểu phẩm này đã rất nổi tiếng. Từ đó đến nay, Bông Hồng Cài Áo chưa bao giờ nhạt phai hương sắc trong lòng những thế hệ con cái hiếu kính cha mẹ. Cùng là quà tặng như Bông Hồng Cài Áo nhưng hiếm hơn, được coi là ‘hàng độc’, chưa từng xuất hiện ở Việt Nam, là hộp thẻ kinh Pháp Cú và hộp thẻ kinh Khuyến Tu.
Về hình thức, hộp thẻ kinh Pháp Cú chứa 423 thẻ kinh, mỗi thẻ có kích thước bằng một card visit, mặt này in một bài kinh Pháp Cú (bản dịch của Tịnh Minh), mặt kia in một trong 112 hình Phật Thích Ca Mâu Ni chụp trực tiếp từ các pho tượng Phật khắp thế giới. Còn hộp thẻ kinh Khuyến Tu chứa 500 thẻ kinh. Mặt trước in một bài kinh hoặc kệ khuyến tu, mặt sau in một trong 112 hình Phật-Bồ Tát. Hai hộp thẻ kinh đều được in màu, trình bày mỹ thuật trên giấy cứng láng. Giá 100.000 một bộ.
Kẻ viết bài tìm gặp người thực hiện công trình này – một Việt kiều ở Houston, chị N. K Chị K. cho biết, từ năm ngoái, nhân dịp Vesak Hà Nội 2008 – thông qua ban tổ chức – chị từng cúng dường đại biểu đến từ các nước, mỗi vị một hộp thẻ kinh làm quà tặng. Năm nay, nhờ một hòa thượng trụ trì đứng tên giấy phép, chị tiếp tục ấn tống 1,000 hộp thẻ kinh Pháp Cú, 1,000 hộp thẻ kinh kệ Khuyến Tu vừa tặng các chùa vừa đáp ứng Phật tử quen biết. Cách sử dụng thẻ kinh rất đơn giản – mỗi ngày rút tình cờ trong hộp ra một thẻ (như kiểu lắc ống xin xăm). Được thẻ có lời kinh gì, hình Phật gì, bài học đạo đức gì, người rút sẽ tự suy nghiệm. Một ngày. Nhiều ngày. Một thẻ kinh. Nhiều thẻ kinh. Cứ thế, Phật tính được khơi lên dần.

Dâng cúng mẹ Quan Âm ở chùa Phổ Quang- nhân lễ Vu Lan .Photo NTLANH/Việt Tribune

‘Mua kinh sách nhiều nhưng không có thì giờ đọc. Phải chi có hình thức nào hấp dẫn, dễ nhớ, dễ thuộc kinh Phật mà khỏi đọc thì tốt hơn.’ Bắt mạch được nhu cầu của các Phật tử này, giới điện ảnh, sân khấu đã nhanh chóng có sản phẩm đáp ứng. Năm trước là bộ phim ‘Duyên trần thoát tục’ nói về cuộc đời Đức Phật. Năm nay vở cải lương ‘Thái tử A Xà Thế’ được dàn dựng. Lấy tích thái tử Xà Thế ở Ấn Độ, thời Phật Thích ca còn tại thế, vì ham ngôi báu đã âm mưu giết cha. Âm mưu bại lộ, vua cha chẳng những không hài tội thái tử, ngược lại còn nhường ngôi. Lên làm vua, việc làm đầu tiên của thái tử là giam cha vào ngục cho chết dù vợ và mẹ hết lời van xin. Đến khi nhà vua có con, nghĩ lại biết thương cha mẹ, sám hối tội lỗi thì đã muộn… Ở buổi tổng duyệt, ‘Thái tử A Xà Thế’ cho thấy sự đầu tư khá công phu về mọi mặt, hứa hẹn thành công lớn lúc công diễn ở Sài Gòn- Đà Lạt trong vài ngày tới.

Ăn chay
Nói tới lễ Vu Lan, sẽ thật thiếu sót nếu bỏ qua tiết mục ăn chay. Cùng rằm tháng Giêng, rằm tháng Mười thì rằm tháng Bảy được coi là dịp ăn chay thích hợp nhất. Có nhiều cấp độ chay. ‘Bản lĩnh’ nhất ‘chơi’ nguyên tháng, nửa tháng, thường thường thì ba ngày 14, 15, 16. Bét nhất mới một ngày 15. Có người ăn chay vì vái xin một điều gì trước đó, được toại nguyện, bây giờ ăn ‘trả ơn’. Có người vì ‘rằm lớn, ăn cả nhà để lấy phước’. Người khác ăn vì tránh sát sanh, thực hiện lòng quí trọng sinh mạng vạn vật của Phật giáo. Người khác nữa thì ‘thấy khoẻ, giảm cân, người nhẹ nhàng hẳn nên ăn luôn’. Mỗi người một nhu cầu, một cách thức ăn chay. Nghiêm nhất là các Phật tử thuần thành. Nghêu ngao và buồn cười nhất là các vị ‘chay đụng’ trẻ tuổi. Vái thi đậu, ăn chay nhưng ăn được vài lần thấy đuối, bèn ‘nhờ má ăn giùm con cho đủ tháng’. Vái hết bệnh, ăn chay nhưng Chủ nhật phải đi cái đám cưới có gà quay, lẩu cá, tôm hấp. Đành phá giới, hôm sau ăn chay bù. Không thiếu kẻ lý sự cùn kiểu ‘đi tu thì phải ăn chay. Thịt chó ăn được, thịt cầy mới kiêng’ để phá bỏ hợp đồng ăn chay đã ký với Phật tổ.
Trong tâm trí người ngoại đạo, thực đơn chay của nhà Phật rất đạm bạc, nghèo nàn. quanh đi quẩn lại chỉ chao tương, đậu hũ, dưa leo, nấm rơm. Nghĩ vậy đúng, nhưng lạc hậu rồi. Vì hiện nay ẩm thực chay Sài Gòn đã được nâng cao, mở rộng thành trường phái ẩm thực chay, đối chọi ngang ngửa với trường phái ẩm thực mặn. Ngoài hệ thống quán chay bình dân, hàng loạt nhà hàng cao cấp thi nhau mọc lên, phục vụ món chay quanh năm. Khách vào nhà hàng khá đông người nước ngoài, người ngoại đạo. Hai chị em gái ngồi trong quán chay Thuyền Viên cho biết ‘đơn giản tụi em bệnh, bác sĩ khuyên nên ăn nhiều rau củ, tránh thịt, mỡ động vật’. Quán Thuyền Viên tọa lạc ở đường Nguyễn Văn Đậu – Phú Nhuận. Nhân viên hơn 30 người chạy như con thoi vẫn không đáp ứng xuể nhu cầu của khách ăn tại chỗ, mua mang về, mua qua điện thoại. Thực đơn phong phú gần 50 món, giá lại rẻ – 3.000 đồng một cuốn gỏi cuốn, 15.000 đồng một tô bún, hủ tiếu, mì các loại, 25.000 đồng một dĩa mì xào, gỏi ngó sen, 100.000 đồng một cái lẩu thập cẩm… nên hơn chục năm lại đây, địa chỉ Thuyền Viên luôn ‘cháy chỗ’ suốt tháng chay.
Một hình thức chay khác, đang được giới trẻ Sài Gòn ưa chuộng, là hình thức buffet chay. Người sành ăn rất ‘kết’ buffet chay của nhà hàng Vân Cảnh – đường Phạm Ngũ Lão – đối diện chợ Bến Thành. Anh Maurice, nhân viên văn phòng ở cao ốc Nguyễn Huệ, cho biết từ 7 năm qua, Vân Cảnh năm nào cũng tổ chức bán vé buffet chay nguyên tháng. Và anh là một trong số thực khách trung thành của Vân Cảnh. Lý do? ‘Gần chỗ làm, ban trưa ban chiều đều ăn đó. Ăn ba chục ngày không hề đụng món cũ. Món nào cũng ngon miệng, đẹp mắt. Hết một tháng chay, xuống được bốn kílô mà người có vẻ trẻ khoẻ hẳn ra.’ Gia đình ông Phú năm người, ngồi thành một bàn riêng. Ông nhận xét ‘100.000 đồng/ vé ăn trưa, 120.000 đồng/ vé ăn chiều. Đây đắt, nhưng nêm nếm hết sức sắc sảo. Nấu nướng sạch sẽ, phòng ăn rộng, mát mẻ. Coi như nhất Sài Gòn!’
Một địa chỉ khác, vừa bán món chay, vừa phục vụ buffet chay, cũng rất được khen ngợi, là nhà hàng Việt Chay. Từ một cơ sở khiêm tốn, hiện Việt Chay đã phát triển thêm vài chi nhánh miền Bắc, miền Trung. Ở Sài Gòn, Việt Chay nằm trong khuôn viên chùa Vĩnh Nghiêm quận 3. Trong nhà hàng trang trí nhiều thư pháp, tranh ảnh Phật giáo. Bàn ghế, đồ dọn ăn, người phục vụ… đều khá bài bản. Lượng thực khách của Việt Chay là tăng ni sinh trường Phật học (cũng đặt trong chùa Vĩnh Nghiêm) và khách nước ngoài, khách hành hương mỗi dịp lễ tết.
Buffet chay của Việt Chay chất lượng bình thường. Số món cũng kém phong phú, giá cả lại không hề rẻ nhưng nhờ chỗ ngồi tiện nghi, sang trọng nên khách vẫn đổ xô đến trước khi thở dài ‘chắc không có lần hai’. Ngồi một bàn trong góc, nhóm bạn già nhìn thực đơn, tấm tắc khen ‘Cửu niên diện bích (gỏi) Niêm hoa vi tiếu (sa kê xắt lát chiên mè), Kiến Phật kiến tâm (súp), Thưởng nguyệt luyến hoa (rau câu) toàn Phật tích, Phật điển. Thực là sâu sắc, trang nhã’. Và họ thi nhau ‘trang nhã’. Đứng dậy, bấm bụng trả hơn 300.000 đồng. Có chuyện vui vui không thể không kể. Là trước khi về, các vị rủ nhau ‘thăm’ toa lét. Đứng trước hai tấm biển gắn trên hai toa lét, thay vì ghi ‘nam-nữ’rõ ràng như thường lệ, thì thay bằng hình vẽ lá sen, búp sen, các vị phân vân rồi đùn đẩy nhau ‘thám hiểm’. Một vị gào nho nhỏ (!) ‘đàn ông- đàn bà, biết ai là lá, ai là búp, hả trời!
Một ngày rong ruỗi Sài Gòn trong mùa Vu lan mưa ngâu nho nhỏ, se lạnh, cảm giác để lại cho khách phương xa là ‘rất vui, rất ngon, rất hay’. Kẻ viết bài chỉ tin họ 50%. Căn cứ vào cái lắc đầu kín đáo khi nhìn cảnh rác rến bát nháo trong chính điện Vĩnh Nghiêm và nét mặt ngạc nhiên lúc chứng kiến không ít người ăn buffet chay kiểu ‘rừng’ – thi nhau chuốc hàng đống đồ ăn về bàn, nếm qua loa rồi bỏ mứa, tiếp tục tha lôi thêm thứ khác… Người ta tế nhị không nói ‘rất dở, rất tệ, rất kỳ cục’, nhưng không phải vì thế mà ‘văn hóa rằm tháng Bảy’ của ta không có nhiều sạn cần phải loại trừ.[NTLA]

********************

source

Viet Tribune Online

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2009

Sài Gòn xưa

Sài Gòn xưa (1930) Nguồn: schloemp.de

Sài Gòn, niềm tin
Ngày: 27-06-2006
Đề tài: Lịch Sử
Trần Gia Phụng

1.- Sài Gòn, thành phố trẻ trung

So với Hà Nội hay với Huế, Sài Gòn trẻ trung hơn. Hà Nội tức cố đô Thăng Long, do vua Lý Thái Tổ lập ra năm 1010, cho đến nay gần một ngàn năm. Huế được vua Chăm là Chế Mân tặng Đại Việt làm sính lễ năm 1306 trong cuộc hôn nhân với công chúa Huyền Trân, vừa đúng bảy trăm năm. Còn Sài Gòn chỉ mới nhập Việt tịch hơn 300 năm, cùng một lần với đợt Nam tiến cuối cùng của dân tộc Việt, bắt đầu từ thời các chúa Nguyễn, vào thế kỷ 17 trở đi.Người dẫn đường cho dân Việt đến Sài Gòn và vào miền Nam là bà Nguyễn Phúc Ngọc Vạn. Bà là con gái thứ hai Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên (cai trị Đàng Trong từ năm 1613 đến năm 1635). Năm 1620, bà kết hôn với vua Chey-Chetta II (trị vì 1618-1628) và trở thành hoàng hậu Cambodia. Ba năm sau, tức năm 1623, do sự vận động của bà Ngọc Vạn, vua Chey-Chetta II thuận theo lời yêu cầu của Sãi Vương, để cho người Việt đến định cư và canh tác tại khu dinh điền Mô Xoài, gần Bà Rịa ngày nay. Như thế bà Ngọc Vạn đưa người Việt vào Sài Gòn một cách êm thắm, giống bà Huyền Trân đưa người Việt đến Huế trên ba trăm năm trước đó. Sau khi vua Chey-Chetta từ trần năm 1628, vương triều Cambodia thường xảy ra tranh chấp ngôi báu. Các hoàng thân tranh giành địa vị, liền nhờ Xiêm La (tức Thái Lan) hay Đại Việt giúp đỡ. Sau mỗi lần được ngọai bang đặt lên ngôi, các vua Cambodia lại tặng đất làm quà tạ lễ. Lý do vương triều Cambodia dễ dàng nhượng vùng hạ lưu sông Cửu Long, vì nguyên thủy vùng đất nầy không phải là đất của Cambodia, mà là nước Phù Nam (Funan) cũ. Vì không phải là đất của mình, lại ít dân sinh sống, vua chúa Cambodia dễ dàng dùng đất nầy làm quà tạ lễ các chúa Nguyễn đã giúp họ lên ngôi, hoặc giúp họ chống lại Xiêm La. Như thế có nghĩa là người Việt không xâm lăng Cambodia mà chỉ đến thay thế người Cambodia, trên vùng đất nguyên thủy của nước Phù Nam, với sự thỏa thuận của các vương triều Cambodia. Người Việt dần dần tiến xuống tới mũi Cà Mau một cách ôn hòa và chỉ đánh trả những khi bị khiêu khích hay tấn công. Trong khi đó, năm 1698, Sài Gòn chính thức trở thành đơn vị hành chánh của Đại Việt, khi kinh lược sứ Nguyễn Hữu Cảnh (hay Kính) lấy đất Đồng Nai đặt thành huyện Phước Long, lấy đất Sài Gòn đặt thành huyện Tân Bình. Hai huyện nầy họp lại thành phủ Gia Định.Tuy nhập vào gia đình nước Việt khá trễ, nhưng nhờ vị trí trung tâm, thuận lợi cả đường bộ lẫn đường sông và đường biển, và nhất là nhờ hoàn cảnh lịch sử, Sài Gòn phát triển nhanh chóng, và sớm trở thành thủ phủ miền Nam năm 1731. Vào năm nầy, chúa Nguyễn lập Sở Điều Khiển tại Gia Định (trung tâm là Sài Gòn), để chỉ huy toàn bộ lực lượng quân sự tại miền Nam. Từ đó, vai trò của Sài Gòn càng ngày càng quan trọng, nhất là sau khi Nguyễn Phúc Ánh tái chiếm Gia Định năm 1787. Ông xây dựng thành Sài Gòn theo kiểu thức Tây phương năm 1790.Đến thời Pháp thuộc, Sài Gòn trở thành thủ đô của Liên Bang Đông Dương năm 1887, nơi đặt trụ sở viên toàn quyền (gouverneur général). Sài Gòn tiếp tục giữ vai trò thủ đô Việt Nam dưới chính thể quốc gia, do Quốc trưởng Bảo Đại thành lập sau hiệp định Élysée ngày 8-3-1949, và dưới chính thể Cộng hòa từ 1955 đến 1975.

2. Sài Gòn, thành phố đa dạng

Sài Gòn hôm nayNguồn: alovelyworld.com
Ngay từ đầu, Sài Gòn đã mang tính chất đa dạng. Sài Gòn vốn là nước Phù Nam. Vương quốc nầy hiện diện từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ sáu, đã triều cống Trung Hoa trong khoảng thời gian từ năm 253 đến năm 519, và là một vương quốc độc lập, theo văn minh Ấn Độ. Vào giữa thế kỷ thứ 6, nước Cambodia xâm lăng và sáp nhập nước Phù Nam. Địa bàn gốc của Cambodia cao, nên gọi là Lục Chân Lạp. Nước Phù Nam thấp, hay bị ngập lụt, nay nhập vào Cambodia, được gọi là Thủy Chân Lạp.Sau hai nền văn minh Phù Nam và Cambodia (đều dựa trên nền tảng văn hóa Ấn Độ), Sài Gòn tiếp thu nền văn hóa bản địa Việt và cả văn hóa Trung Hoa. Văn hóa Trung Hoa được tô đậm do sự xuất hiện của hai nhóm người Hoa từ giữa thế kỷ 17. Nhóm thứ nhất là Mạc Cửu ở Hà Tiên, và nhóm thứ hai là Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên ở Biên Hòa và Mỹ Tho. Sự hiện diện của người Hoa làm cho thương cảng Sài Gòn thêm nhộn nhịp. Nhiều thương thuyền Trung Hoa, Nhật Bản, và các nước Đông Nam Á thường cập bến Sài Gòn để trao đổi hàng hóa. Vào thế kỷ 19, Pháp đến chiếm Sài Gòn. Pháp phát triển Sài Gòn theo mô thức đô thị Tây phương. Sài Gòn là cánh cửa Việt Nam mở rộng sớm nhất đón luồng văn hóa Tây phương. Thương thuyền các nước Tây phương, nhất là Pháp, ra vào đông đúc ngay khi người Pháp mới chiếm Sài Gòn. Pháp tự động biến Sài Gòn thành hải cảng thương mại tự do ngày 22-2-1860. Trong bốn tháng đầu tiên, 60,000 tấn gạo đã được xuất cảng; đến cuối năm thì có 111 tàu Âu Châu, 140 thuyền buồm Trung Hoa và gần 100,000 tấn hàng xuất cảng. Sự lui tới của thương nhân nước ngoài làm cho sự giao thoa văn hóa càng phong phú đa dạng.Như thế, tại Sài Gòn, cùng hiện diện các nền văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa, và Tây phương, cùng bổ túc vào nền văn hóa Việt. Đây là điểm khác biệt giữa Sài Gòn với Hà Nội và Huế. Hà Nội và Huế lớn lên trong không khí văn hóa cổ truyền Việt, chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, và theo tam giáo cổ điển Phật Nho Lão. Trong khi đó, tuy mới nhập Việt tịch, Sài Gòn ngay từ đầu đã có nền văn hóa đa nguyên (nhiều nguồn), và theo nhiều tôn giáo, vì ngoài tam giáo cũ, còn có thêm Hồi giáo của người Chăm và đạo Thiên Chúa phát triển tại đây khá sớm. Điều nầy góp phần giải thích sự xuất hiện của ĐẠO CAO ĐÀI ở Tây Ninh và Sài Gòn năm 1925, là tôn giáo tổng hợp tất cả các đạo giáo lớn trên thế giới. Không khí đa văn hóa rất phù hợp với xã hội di dân và giúp cho xã hội di dân thêm sinh động, chóng phát triển. Xã hội di dân là môi trường thuận tiện cho không khí đa văn hóa.Sắc thái đa văn hóa ở Sài Gòn thể hiện rõ nơi đặc tính của người Sài Gòn. Trước hết, cần chú ý, lúc đầu, Sài Gòn là nơi quy tụ những di dân, đa số từ Thuận Quảng (Thuận Hóa, Quảng Nam), hoặc xa hơn, từ Thanh Nghệ (Thanh Hóa, Nghệ An) trở vào. Di dân thường là những người can đảm, sáng tạo, tự lập, mạo hiểm, siêng năng, bình dân, cởi mở, ưa hòa đồng, và thích xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng và khai phóng. Với những đặc tính đó, khi vào miền Nam, nơi có khí hậu ôn hòa, đất đai phì nhiêu, di dân Nam bộ thành công nhanh chóng trong việc xây dựng đời sống kinh tế, tương đối sung túc so với nguyên quán ở phía bắc. Bên cạnh đó, lúc đầu di dân thường không phải là dân khoa bảng, ít có điều kiện học hành, nên ít chịu ảnh hưởng Nho học, ít thích chuyện lý thuyết và thường hành động theo trái tim nồng ấm của mình. Có thể vì những đặc tính trên, cộng với sự thành công nơi vùng đất mới, người miền Nam nói chung và người Sài Gòn nói riêng, nổi tiếng hào hiệp, hào phóng và hảo hán. Điểm đáng chú ý, tuy tính tình cởi mở, phóng khoáng, tiếp xúc rộng rãi với nhiều nền văn hóa khác nhau, người miền Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng vẫn luôn luôn giữ gìn nguồn cội và cương quyết bảo vệ nguồn cội của mình, kể cả khi Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp từ 1874. Pháp chủ trương tách Nam Kỳ ra khỏi Việt Nam, nhưng những cuộc kháng chiến chống Pháp không ngừng xảy ra.

(..........)


Toronto, 25-6-25-6-2006
Trần Gia Phụng
********************
source
DCVOnline

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2009

Chợ Bến Thành xưa và nay



04:09 09-09-2008

Chợ Bến Thành

Bên trong chợ Bến Thành
Chợ Bến thành vào ngày Tết năm 2008...

Chợ Bến Thành năm 1860

Chợ Bến Thành năm 1914

Chợ Bến Thành năm 1918

Chợ Bến Thành năm 1921

Chợ Bến Thành ngày nay

Dãy nhà xưa...

Dãy nhà xưa...

Gara xe lửa...

Hồi ức...

Kênh lớn và đường Charner

Công viên gần chợ

Năm 1881 Sài Gòn đã có xe lửa

Năm xưa...

Ngày nay...

Ngày xưa ơi...

Đường Nguyễn Huệ

Đường Nguyễn Huệ

Vào trong khu chợ


Nguồn: vinaanh.com
***********************
source
http://www.saigonmagazine.net/catenews.php?Article=3712

Sài Gòn… những tiếng rao



09:09 17-09-2008

Hàng rong (Ảnh www.trekearth.com )
“Cải…cải…cả…i…” Tôi giật mình tỉnh giấc bởi tiếng rao của thằng cha bán cải. Hồi mới dời nhà từ dưới tỉnh lên, về khu phố nầy, sáng nào tôi cũng bị “ sốc” bởi tiếng rao cộc cằn, khó ưa của thằng chả. Đàn ông gì mà đi bán cải, mà cũng không biết cất tiếng rao sao cho có cảm tình với người mua. “Cải..Cải..” nghe cụt ngủn cụt ngẳn như nạt nộ ai. Có bữa bực mình quá, xuống đường dòm mặt coi thằng chả bán thứ gì? Cải bẹ xanh, bẹ trắng, bó xôi, tần sạy.. được chất sạch sẽ, tinh tươm trên cái sàn bằng cây gát ngang chiếc xe ba bánh. Tôi thấy người ta bu vô mua, hỏi giá bao nhiêu tiền một ký cải bẹ xanh, mấy bà mua nói có 5.000đ trong khi ngoài chợ 8.000đ mà không được tươi như cải của thằng chả. Thằng chả cân luôn tay, nụ cười luôn nở gương mặt xạm đen vì nắng gió. Một bà lối xóm vừa lựa cải vừa nói nhỏ bên tai tôi:” Ông nội nầy giỏi lắm, bán xe cải một chút là hết, thằng chả còn về đi chợ nấu cơm nuôi bà mẹ với đứa con nhỏ xíu, vợ mới mất, bị ung thư tử cung”. Không hiểu sao, nghe hoàn cảnh đáng thương của thằng chả tôi cũng bớt ghét phần nào. Mỗi khi cần nấu món cải tôi thường mua giúp thằng chả rồi lần lần tiếng rao ấy đã gọi tôi mỗi sáng thức dậy tập thể dục đúng giờ.

Sáng nào tập thể dục xong, tôi thường đi chợ. Vừa ra khỏi ngõ đã nghe mời “bánh mì Sài Gòn 1000 một ổ! Mua bánh nóng dòn đi cô ơi!” Tôi định làm lơ đi luôn nhưng nghe cái mùi bánh thoang thoãng của bột mì và bơ tôi quành lại, chưa kịp nói, cậu nhỏ đã nhanh miệng: ”Mấy ổ cô?” “Một thôi!” Thằng bé dở hé cái bao dựng trong cần xé lấy ổ bánh nóng hôi hổi đưa cho tôi, lấy tiền xong, cậu ta leo lên xe vọt đi ngay, cậu ta đi cho kịp cái nóng của ổ bánh sáng và đi cho kịp giờ đi học. Cầm ổ bánh, tôi vừa đi vừa ăn “ điểm tâm”, ăn để thưởng thức vị ấm nồng của buổi sáng mà cậu bé vừa trao. Ra tới chợ, ổ bánh cũng vừa ăn hết, vào tới đầu chợ tôi nghe tiếng gọi khàn khàn, têu tếu: “Quẹo lựa cô ơi! Hàng Hồng Kông bên hông Chợ lớn mới nhập về, một cặp có 30. Hà…hà…cô nào chồng bỏ chồng chê, mặc vô chồng thấy là mê tới già…à..Quẹo lựa, quẹo lựa..!“ Mấy bà, mấy cô sà xuống, mỗi người lựa một cái áo ướm thử lên người rồi cười chọc ghẹo bà bán hàng: ”Bà nói mặc áo nầy vô chồng mê mà sao chồng bà bỏ bà vậy?”. Thử hết cái nọ tới cái kia rồi họ cò kè trả giá, mỗi bà mua 4, 5 cái vì giá rẽ mà kiểu cọ cũng tương đối “bắt mắt”.

Những ngày chủ nhật tôi thích nấu món gì đặc biệt cho gia đình nên đi thẳng tới dãy bán thịt, cá. “Tép bạc, ếch đồng đây! Ghé mua cô ơi!” Tôi nhìn đám ếch đồng vàng hượm bị cột chùm từng xâu để trên rổ, hỏi: “Bao nhiêu một xâu ?”... Chàng thanh niên nhanh nhẹn cân xâu ếch rồi thành thạo “cắt đầu, lột da”. Trong giây lát, cậu ta đưa cho tôi mấy con ếch với những cặp đùi nỏn nà, loại ếch ruộng bắt trong những đêm mưa, thịt chắc mà ngọt chớ không bở rệu như ếch nuôi. Tôi mua thêm phụ liệu để nấu cho đủ nồi cà ri ếch rồi bươn bả về nhà.

Về đến nhà, chặt thịt ếch để ướp gia vị mà cái dao nhậm nhầy, đang nhăn nhó... thì chợt nghe tiếng rao: ”Mài dao mài kéo đây..ây..Mài.. dao ..mài..” Tôi sai thằng con chạy theo kêu ông già. Bốn cái dao vừa lớn vừa nhỏ, ông già cặm cụi mài bằng cái “máy mài dao” tự chế rồi liếc lại bằng đá mài. Sau nửa giờ, bốn lưỡi dao bén ngót, sáng rỡ như dao mới, chặt thịt gọn bân, nhẹ nhàng làm sao. Mài bốn cái dao chành mà tính tất cả có 10.000đ. Đọc báo thấy có người làm nghề mài dao, nuôi được con đi Đại học, một ngày họ mài được bao nhiêu tiền mà nuôi con học Đại học không biết?

Bán cây dạo
Đang nằm thiu thiu nghỉ trưa thì nghe: ”Ai bán đồng hồ cũ, ra-dô cũ, tiền cũ, quạt máy, nồi cơm điện, hộp quẹt Díp-pô hôn….?“. Mua bán cái giống gì vô duyên vô dùng, giấc trưa không để cho người ta nghỉ ngơi, rao om xòm như chỗ không người. Ở dưới quê đâu có cảnh nầy, người ta rao xa xa vừa đủ nghe, tiếng rao cũng thánh thót êm đềm hơn chớ đâu ồn ả, vội vàng như ở đây. Mà nhà có cái đồng hồ cũ mà họ mua rẻ rề bán làm gì, để sữa lại rồi cho mấy người dưới quê còn có nghĩa hơn. Vậy là mất toi giấc ngủ trưa.

“Chí mè phủ…Chí..mè…phụ…” . Tối nào cũng vậy, cơm nước xong một lúc là nghe tiếng bà già Tàu rao bán món chè mè đen . Những tối mưa lành lạnh tôi hay gọi mua, chén chè nóng hổi được bà cụ ân cần múc ra từ cái nồi đặt trên lò than hực đỏ. Bên chén chè béo thơm, ngọt lịm mà nhớ cái áo xá xẩu và chiếc lưng còng xuống vì gánh chè của người bán. Có khi còn có tiếng rao "Bánh bò... nước dừa... hôn"...

“Lốc cốc…lốc cốc..lốc..cốc..” Không phải tiếng rao mà là tiếng gõ giữa đêm khuya của cậu bé phụ bán hủ tiếu gõ. Tô hủ tiếu bình dân với vài miếng thịt mỏng như lưỡi lam, giá chỉ từ 2000 đến 3000đ cũng giúp cho người lao động ấm lòng giữa đêm khuya. Đêm nào cũng vậy, khi tiếng xe trên đường đã bớt ầm ì thì tiếng gõ quen thuộc lại vang lên. Tiếng gõ dường như đã hiện hữu trên các ngõ phố từ lâu lắm, đã ghi vào tiềm thức của người Sài Gòn dấu ấn thân quen cho nên có người Sài Gòn xa xứ nói họ nhớ tô hủ tiếu gõ đến cồn cào ruột gan. Có lẽ, họ nhớ tiếng gõ thì chính xác hơn.

Còn biết bao tiếng rao của những người dân lao động với những nghề nghiệp khác nhau, họ luôn phục vụ tận tâm người tiêu dùng mà phía sau những gánh hàng rong là nổi trôi bao cảnh đời long đong vất vã. Họ là dân ở những miền quê bị thất bát mùa màng, bị lũ lụt thiên tai tàn phá, là những người thuộc” lớp nghèo thành thị” còn muốn sống lương thiện bằng chính sức lực của mình. Họ tụ hội giữa thành phố hoa lệ để tìm kế sinh nhai nuôi bản thân mình và tháng tháng cố chắt chiu chút tiền còm gửi về cho gia đình ở chốn quê xa. Sài Gòn nhộn nhịp, Sài Gòn phồn hoa nhưng Sài Gòn cũng còn quá nhiều những gánh hàng rong với những tiếng rao chất chứa bao nỗi niềm u uẩn.

"Lúc ở Sài Gòn thì thấy những tiếng rao là chuyện bình thường đôi khi còn bực bội. Nhưng bây giờ, khi đã định cư ở một nơi không phải là Sài Gòn, bỗng thèm nghe tiếng nói quê mình, bỗng dưng nhớ lắm nhưng tiếng rao, thương lắm những cuộc đời còn nhọc nhằn khốn khó. Sài Gòn ơi! Nhớ quá!". Nhận thư của một người bạn xa xứ chợt thấy nao lòng. Hình như mình cũng đang nhớ...

K.Q - nguoivienxu.vietnamnet.vn
**************************************
source
http://www.saigonmagazine.net/catenews.php?Article=3702

Tính cách người Nam Bộ


12:09 26-09-2008
Do nguồn gốc lịch sử, hoàn cảnh sống và tác động của môi trường thiên nhiên đã hình thành nên tính cách người Nam Bộ. Ngoài tính hiếu khách, tính bộc trực, mạnh mẽ , hào phóng và đôn hậu, người Nam Bộ còn biết bao nét đẹp truyền thống đáng trân trọng như tính nghĩa khí hào hiệp, tấm lòng nhân hậu, bao dung, tư chất thông minh và giàu nghị lực. Đặc biệt phụ nữ miền Nam rất đỗi vị tha, dịu dàng lại khéo tay, chiều chồng nhưng đáng quý nhất là sự hy sinh cho chồng con, cho quê hương, đất nước. Điều đó đã được minh chứng suốt quá trình hơn 300 năm lịch sử của Nam Bộ. Miền Nam đã trải qua chiến tranh, bom đạn ác liệt nhưng miền Nam kiên cường, bất khuất và miền Nam xứng đáng với danh hiệu "Thành đồng của Tổ quốc". Dưới ánh sáng của (...), chúng ta đang phát huy nội lực nhằm làm dân giàu, nước mạnh, miền Nam sẽ cùng cả nước tiến lên tạo cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Tính bộc trực Trong dân gian còn lưu truyền câu "Ăn mặn nói ngay" để nói lên tính cách người miền Nam. Lý giải cho câu thành ngữ này phải dựa trên cơ sở lịch sử và đời sống thực tế Nam Bộ. Như đã nói, họ là những lưu dân đến đây chủ yếu bằng đường biển, suốt hành trình lênh đênh giữa sóng to gió lớn để chống lại giá rét, chống lại những cơn cuồng nộ của biển cả... buộc họ phải tìm cách đảm bảo mạng sống và sinh tồn. Để lặn sâu dưới nước, thường người ta hay uống nước muối; giữ cá được lâu thì muối hoặc làm mắm... Dần dần mà khẩu vị của người đi biển trở nên mặn mà hơn so với người ở đất liền. Trong bữa ăn truyền thống của người miền Nam không bao giờ thiếu được món kho như: thịt kho, cá kho, mắm kho hoặc cá muối chiên hay khô mặn, ba khía... Đặc biệt bất kỳ nhà giàu có hay nghèo hèn, dù bữa ăn bình dân hay tiệc tùng lễ lạt giữa nhà hàng sang trọng đều có chén nước mắm trong mâm thức ăn dùng làm nước chấm. Tính mạnh mẽ Người miền Nam trong lịch sử khẩn hoang Nam Kỳ là những người luôn luôn đương đầu với nghịch cảnh, bởi thế họ không có thì giờ để con cà con kê, nếu cần diễn đạt thì nói một cách dứt khoát, ngắn gọn, trực tiếp và rõ ràng. Vì lênh đênh giữa biển, sóng vỗ ì ầm, trời nước mênh mông nên tiếng nói của con người bị át đi. Cho đến khi lên bờ khai khẩn thì đất rộng người thưa, cây cối um tùm, phương thức lao động không phải tập đoàn hay hợp quần mà thủ công - riêng lẻ, khi cần gọi nhau để trao đổi thì phải hét to hoặc dùng tiếng động lớn làm ám hiệu cho nhau, bởi vậy mà người miền Nam cho tới sau này vẫn còn ăn to nói lớn. Tính đôn hậu Người miền Nam luôn chân tình, cởi mở và dễ hòa mình. Xét trên góc độ khoa học, đó là sự hội nhập giao lưu và hòa đồng giữa cộng đồng các dân tộc. Khi người Kinh đặt chân đến Nam Kỳ thì ở đây đã có người Khmer, người Hoa sinh sống. Tuy phong tục mỗi dân tộc mỗi khác nhưng tất cả như có một mẫu số chung là tinh thần nhân ái. Trong ngôn ngữ miền Nam hiện nay vẫn còn tồn tại những tiếng có nguồn gốc Khmer và Hoa như: mình ên, cà tha, xiêm lo, xích xái, lì xì, thèo lèo, xí muội, thò lò... Còn địa danh ở Nam Bộ có những tên đi vào lịch sử như: Sa Đéc, Sóc Trăng, Bãi Xáu, Chắc Cà Đao... Thông thường mỗi khi giỗ chạp, Tết nhất hay mỗi khi bày cỗ cúng kiến, người miền Nam ngoài việc dọn cỗ trên bàn thờ ông bà, cha mẹ... còn có một mâm riêng được bày lên trước cửa nhà để cúng gọi là "mâm đất đai". Mâm thức ăn này để cúng các bậc tiền hiền đã có công khai phá vùng đất hiện tại cùng những người khuất mặt khuất mày đã bỏ mạng nơi đây mà không nơi nương tựa. Trước khi khấn vái ở bàn thờ gia tiên thì gia chủ phải thành tâm trước "mâm đất đai", xem như một thủ tục trình báo với "sở tại". Điều này nói lên tấm lòng người miền Nam nhân ái, vị tha, giàu tình người mà bà con ta gói gọn trong hai tiếng "biết điều". Những người dân hiếu khách Những cư dân Đàng Ngoài từ chỗ có làng xã, sinh hoạt lề thói nhiều đời đến nơi ở mới tứ cố vô thân lại thêm phong thổ khắc nghiệt... đã làm cho họ trở nên bản lĩnh và đặc biệt là rất hiếu khách. Hiếu khách có lẽ là nét đặc trưng, là cá tính độc đáo của người miền Nam, bởi họ rất cần người để tâm sự, để giãi bày những nỗi niềm sâu kín hoặc để uống với nhau ly rượu giải sầu - cái sầu ly hương - hay để hàn huyên chuyện xứ sở Đàng Ngoài, nơi quê cha đất tổ. Trong sinh hoạt láng giềng Nam Bộ hiện tại, ta thấy có nhiều tiệc tùng, nhậu nhẹt, đám cưới, đám giỗ, thôi nôi, đầy tháng, tân gia... mà người được mời ít khi từ chối, mặc dù hiểu rằng "ăn bữa giỗ lỗ bữa cày". Họ đến đó không phải vì rượu thịt, vì miếng ngon vật lạ mà vì "phải quấy" - nói theo tiếng bà con miền Nam hay nói. Ai không đi, không dự được thì gởi bao thư, lễ vật và xin cáo lỗi; còn nếu như làm thinh, không có "phản hồi" gì hết là "có vấn đề"! Từ những bàn tiệc này mà đôi khi nảy sinh những quan hệ tình cảm mới như: kết nghĩa thông gia, kết nghĩa tri âm tri kỷ hoặc kết nghĩa anh em...
Nguồn: saigon.nguoihanoi.net
******************************
source
http://www.saigonmagazine.net/catenews.php?Article=3909

Sài Gòn Gia Định xưa


Vào khoảng thế kỷ thứ 5, Sài Gòn Gia Định là vị trí của hai nước nằm sát cạnh nhau: Thù Nại và Bà Lị. Thời gian sau cả hai nước này đều bị nước Phù Nam kiêm tính và đặt kinh đô ở Vyâdhapura. Qua thế kỷ thứ 6 đến lượt nước Phù Nam lại bị thôn tính do Tiểu vương Kambuja ra đời, gọi là nước Chân Lạp hay Cao Miên. Triều đình Chân Lạp thuở đó với bộ máy nhà nước khá quy củ. Phần đất có hai khu vực rõ rệt, miền khô lục Chân Lạp và miền trũng úng Thủy Chân Lạp. Miền khô nằm trên phía Bắc. Nơi này khô ráo, đồi gò thoai thoải, sông nước trong lành, khí hậu hiền hòa. Nơi đây được tập trung tất cả hệ thống hành chánh, vua quan. Chung quanh có phố xá sầm uất, dân chúng đông vui. Dần dần ở lục Chân Lạp này còn có các dân tộc khác cũng đến giao thương như Mã Lai, Ấn Độ, Chăm. Còn phần đất bên dưới nằm ở phía Nam, thuộc hạ lưu sông Mê Kông (Cửu Long) vốn là miền trũng úng, thuộc loại hiểm địa, bị hoang phế từ lâu đời. Bao quanh phần lớn lại là biển cả, gọi là Thủy Chân Lạp, ta gọi là Đàng Thổ. Thế kỷ thứ 14 nước Chân Lạp bị quân Mã Lai áp đảo dày xéo, buộc phải thần phục. Lại về sau bị Xiêm đặt ách thống trị. Khoảng thời gian này đã có lúc chiến tranh biên giới Xiêm La và Chân Lạp đụng độ nhau rất quyết liệt khiến quân lính cả hai bên sợ hãi tìm cách đào ngũ nhập vào số các sắc dân Mã, Việt, Chăm, Chân Lạp cùng nhau chạy loạn. Một vài toán liều mạng chạy xuống vùng biển Thủy Chân Lạp, vào rừng sâu ẩn náu.
Sài Gòn - Gia Định năm 1867
Sài Gòn Gia Định năm 1867

Có lẽ từ đó những danh từ chỉ vài vị trí địa lý được xuất hiện như: Prinagaram nghĩa là phố giữa rừng; Kas Krôbey chỉ khu vực có nhiều trâu nước và Pranokor tức rừng già. Sau cuộc chiến dữ dội ấy, thế lực Chân Lạp sút kém dần. Rõ rệt nhất ở vào thế kỷ 16 đất đai của họ bị lấn dần. Trong Hoàng tộc lúc đó lại thường xuyên xảy ra nội loạn tranh chấp ngôi báu. Sang đầu thế kỷ 17 vua Chân Lạp là Chey Choetha II đã xin cưới một công nương nhà Đại Việt, con gái vua Hy Tông Nguyễn Phúc Nguyên (1617-1635). Mục đích của Chân Lạp muốn dựa thế lực nhà Nguyễn hòng chống lại Xiêm La (tức Thái Lan). Còn mục đích của Đại Việt muốn nhân cơ hội lấy tình thân thông gia, giữ ôn hòa lân bang và để đặt bước khai hoang. Cuộc hôn nhân của công chúa Ngọc Vạn với vua Chân Lạp được hình thành vào năm 1620. Bà được phong làm Hoàng hậu với tước hiệu "Somdach - preia Peaccac - Vodey - Prea - Roriac - Khsattrey". Từ đó mối giao bang giữa Đại Việt và Chân Lạp khá êm đẹp. Dân hai nước được tự do qua lại sinh sống cả hai bên lãnh thổ của nhau. Vậy là nơi rừng rú hoang dã Thủy Chân Lạp với tên Preinokor có thêm nhiều hơn vết chân người Việt. Các danh từ được phiên âm từ Preinokor ra Sài Gòn - Kaskrobey ra Bến Nghé và Nông Nại ra Đồng Nai đã được xuất hiện từ nhóm người Việt này đến lưu cư đầu tiên. Năm 1623 vua Chân Lạp đã mau mắn gửi quốc thư hồi âm chấp thuận việc chúa Nguyễn muốn đặt trạm thu thuế tại Sài Gòn (Prinokor). Sự việc này đã là một thực thể chính đáng cho chúa Nguyễn nhà Đại Việt với công trình khai hoang xứ Đàng Thổ. Danh từ Đàng Trong đã được vào đến đây. Đàng Trong cứ gọi là Đàng Cựu. Khi ấy miền ác địa Thủy Chân Lạp vô chủ này, mặc nhiên được xem như vùng trái độn giữa hai biên giới Việt và Miên. Bởi vậy bất kỳ dân tộc nào có gan dạ, có sức, có lực... ai ai muốn đến chiếm cư khai phá vùng này lấy đất trồng trọt sinh sống đều được tự do, không hề bị một ngăn cản cấm đoán nào cả. Mọi sắc tộc đến đây ngày đó đều có quá trình từng nhóm, trước hết là người bản thổ (Chân Lạp) tức người Khơme. Tuy là dân chánh gốc: nhưng vì chốn này là nơi hiểm địa nên sự có mặt của họ rất thưa thớt, vắng lặng. Chỉ khi nào thấy có khói vương tỏa qua cây lá ở đâu mới hay nơi ấy có người. Đặc biệt họ chỉ chọn những giồng cao mới dựng lều có sàn để ở và cho tiện việc trồng khoai sắn, cấy lúa càn đông, lúa nọa đen... Ngoài ra, họ không muốn khai phá gì thêm vì e hiểm trở, hơn nữa vì họ quá ít người. Người Chăm: họ lưu lạc đến đây từ những thời ly loạn xa xưa. Họ cũng chỉ quan ở vùng khô tìm nơi dốc cao làm rẫy sinh sống. Họ ưa sống thành từng nhóm biệt lập đồng chúng. Người Man: theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí ghi là thuộc nước Đại Việt, vốn là dân tộc thiểu số ở cuối dãy Trường Sơn lưu chuyển xuống. Nhưng còn có người Man thuộc Chân Lạp cổ, gồm nhiều sắc tộc Ché Mạ, Mnông, X Tiêng... họ sinh sống bằng nghề săn bắn và nương rẫy, thường ở trên những triền núi cheo leo và không cố định. Người Việt: họ đến đây lập nghiệp làm nhiều đợt trước cả thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Bến dừng lại đầu tiên là Mỏ Xoài (Bà Lị, Bà Rịa) rồi mới dò dẫm vào tiếp các vùng sâu hơn. Sau đó đến vụ chuyển cư hợp pháp là năm 1620. Một số vũ công và gia đình họ được chọn theo công chúa Ngọc Vạn vào hẳn đất Miên nhưng cũng một số ít họ xin lưu cư ở vùng trũng Thủy Chân Lạp để tiện trồng lúa nước. Bản tính người Việt cần cù siêng năng có đặc điểm ưa sống quần tụ dễ hòa đồng... Mặc dù buổi đó quyền tự phát tự quản, mạnh ai nấy sống, nhưng dù vậy các sắc tộc cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng lẫn nhau - nhất là nền văn hóa Đại Việt đã có bề dầy nề nếp văn minh cổ truyền rất dễ thu hút. Nói về cuộc sống thay đổi của người Việt, họ đã cảm tử xông pha đến đây; miền sông biển Bà Rịa Đồng Nai, vùng rừng rú Sài Gòn Bến Nghé như một địa bàn đầy hứa hẹn sự hưng thịnh. Thế nhưng trước mặt còn tràn ngập gian nan thử thách, cần nhiều gan dạ và sức phấn đấu. Do vậy nên nhà nước Chân Lạp đã chấp thuận nhường quyền khai hoang và thu thuế vùng trên cho Đại Việt. Sau hết là người Tàu. Đây là số di thần nhà Minh bất mãn với nhà Thanh. Năm 1679 hai tướng Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên tức Trần Thắng Tài đã dùng 50 thuyền chiến vượt biển di tản cùng 3.000 người thân tộc và cận vệ. Họ cập bờ Tư Dung (miền kinh đô Thuận Hóa) họ ra dấu xin tị nạn vào đất Việt. Trước thế cùng lực tận, họ được chúa Nguyễn chấp thuận cho phép nhập cư. Liền đó họ được hướng dẫn vào Đàng Thổ cho ở làm 2 nơi, Bàn Lân (Đồng Nai) và Vũng Cù (Mỹ Tho). Họ được tự do khai phá theo sở dụng nhưng họ cũng chỉ khai hoang đủ để sinh sống. Vì họ vốn có sở trường thương mại. Điểm buôn bán đầu tiên của họ là Cù Lao Phố hay còn gọi là Đông Phố. Tháng hai năm Mậu Dần 1698 chúa Minh Nguyễn Phúc Chu phái trấn thủ dinh Bình Khương là Lễ thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh làm thống suất kinh lược xứ Đồng Nai. Ông cho đặt đại bản doanh tại Cù Lao Phố bằng sự nhận xét thần tốc về mọi mặt: đất đai hoang phế mênh mông nhưng toàn là sình lầy cùng rừng rậm; nhân lực thì yếu kém, đời sống sinh hoạt của các sắc dân quá thô thiển thật là thiên nan vạn nan! Nhưng với ý chí quả cảm, bất kể nguy khó hiểm nghèo Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vạch ra kế sách cấp tốc: Khai hoang mở cõi. Dàn xếp biên cương. Song song với việc khẩn hoang Thống suất Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh thi hành ngay việc chia ranh định vùng mong sớm đưa chúng dân vào nề nếp an cư. Về hành chính: ông chia đất Đông Phố lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh trấn biên (Biên Hòa ngày nay). Lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn (tức Sài Gòn). Mỗi trấn có lưu thủ quản trị, dưới có cai bạ coi về ngân khố và ký lục coi về hình án. Trấn Biên bao gồm từ Bình Thuận đến Nhà Bè. Phiên Trấn bao gồm từ Tân Bình đến Cần Giuộc (Long An). Phủ Gia Định ngày đó là gồm từ Bình Thuận, Sài Gòn, Đồng Nai, Nhà Bè đến Long An. Khi đó địa bàn Đồng Nai Gia Định được nới rộng thêm ra hàng ngàn dặm vuông, các chủng dân được quy tụ dựng thành chòm xóm. Dân số có đến 40.000 hộ. Liền đó, Thống suất Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vạch ra quy hoạch: Thiết lập làng xã, khóm ấp. Lập sổ đinh, sổ điền. Định mức tượng trưng về thuế tô, thuế dung. Riêng người Hoa tập trung làm hai xã để việc thương mại có cơ hội bành trướng đều khắp. Xã Thanh Hà ở huyện Phước Long (Đồng Nai Biên Hòa). Xã Minh Hương ở huyện Tân Bình (Sài Gòn Bến Nghé). Tất cả dân số người Hoa cũng đều nhập sổ bộ Đại Việt. Về thương mại: ông cho lập đường thủy ven các nhánh sông, lấy khu chợ nổi Nhà Bè cổ nơi ngã ba sông Bình Dương làm trung tâm giao dịch, thương lưu với các ngã: Cù Lao Phố, Bến Nghé, Cần Giờ, Rạch Cát, Vũng Cù (Cần Giuộc) và Gò Vấp. Đặc biệt bến tàu Châu Đại Phố của nhóm Hoa thương nhem nhúm còn quá luộm thuộm, giờ đây cũng được khuyến khích cho có qui cũ. Vị trí này sau đã nhanh chóng thành tên Cảng Đại Phố. Đây chính là bến cảng non trẻ nhất của miền này ở cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18. Về quân sự: Đã có sẵn một lực lượng binh chủng gồm: thủy binh, bộ binh, tinh binh và thuộc binh. Thống suất cho cắt đặt các cơ đội canh phòng yên ổn thôn trang và quân lính cả hai dinh lo bảo vệ chủ quyền tại suốt vùng đất mới thành lập. Thời ấy, vua Cao Miên (tức Chân Lạp) là Nặc Ông Thu. Mặc dầu bên trong hoàng tộc của họ vẫn thường xảy ra nổi loạn tranh chấp nhưng bên ngoài đối với sự định vùng biên giới của nhà Đại Việt cũng là ổn định cho cả đôi bên Việt Miên. Sự thần phục tiến cống được họ nối lại như trước. Sau hết đến vấn đề di dân và khuyến nông đã được triều đình chúa Nguyễn chấp thuận. Thống suất Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh cấp tốc phái thuộc binh đi hô hào chiêu mộ dân chúng từ miền Ngũ Quảng vào Gia Định lập nghiệp. Sự hình thành của Sài Gòn Gia Định ngày nay bắt đầu tư thuở cha ông đi khai phá và lập nghiệp cách đây hơn ba thế kỷ là vậy.
***************************
source
03:09 09-09-2008
http://www.saigonmagazine.net/catenews.php?Article=3710