Hiển thị các bài đăng có nhãn Little Saigon. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Little Saigon. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 5 tháng 5, 2010

“Chiến trường xưa”



Cập nhật lúc 4:57:38 AM - 02/05/2010

Tản mạn đường xa 8


262h1.jpg


Kỹ thuật bắt tôm giống.


Bài và ảnh: Trần Công Nhung


(Trong cuộc sống, dù tầm thường đến đâu, nếu chịu khó soi rọi, chúng ta cũng thấy có những trùng lặp rất lạ, tùy theo thân phận mỗi người. Ngày 30 - 4 năm ngoái, bất chợt nghe những ca khúc ca ngợi sự hy sinh của người lính (...) qua tiếng hát của Chế Linh, tôi đã ghi nhanh cảm xúc nóng hổi qua bài “Con đường xưa em đi” (a). 30-4 năm nay lại về thăm “Chiến trường xưa”, đúng lúc Asia ra DVD 55 năm nhìn lại. Những cảm xúc năm nào như còn đây, khiến tôi không cầm được nước mắt trước những hình ảnh tang thương đau khổ…trước những hy sinh vô bờ của bao nhiêu người nằm xuống cho quê hương mà “Nếu ai không nhớ, không lớn nổi thành người” ).

“Chiến trường xưa”, xin nói ngay đây không phải là chiến trường của (...) ngày trước. Tôi nhớ mấy năm qua, trong nước có tin một chuyến xe đưa các “cựu sĩ quan chỉ huy quân đội nhân dân VN” về thăm “chiến trường xưa” ở Tây Nguyên. Lúc xe đến đúng vị trí, đúng thời điểm thì lao xuống vực sâu, không ai còn sống sót. Thăm “chiến trường xưa” như vậy còn nguy hiểm hơn xông vào trận chiến mới. Nếu tôi là lính tôi không dại gì đi thăm như vậy.

Nhưng, tôi đã đi thăm “chiến trường xưa” của tôi, tức trại tù (...), ở huyện Hòa Phong Tuy Hòa. Chính nơi đây, mấy chục năm trước, tôi và hàng ngàn anh em (...) được “học tập” để trở thành người “công dân tốt”. Nghĩ cũng đau, công ăn học nên người, bao nhiêu năm đóng góp cho xã hội, bỗng chốc trở thành người có tội mà chính mình không rõ tội gì! (1)


Trời Nha Trang sau mấy cơn bão, đang nắng đẹp, bỗng mưa gió mấy ngày, lại áp suất thấp nhiệt đới. Hôm nay trời ngưng gió có vẻ tạnh ráo, nhưng sáng sớm khá lạnh. Tôi khởi hành từ lúc 5 giờ sáng, trời còn tối om. Đi sớm để kịp về trong ngày. Nha Trang - Tuy Hòa khoảng 120km, từ ngã ba Phú Lâm lên A 30 chừng 25km. Nha Trang ra phía Bắc, con đường biển chạy dài đến ngoài Lương Sơn (18km), đường tốt cảnh đẹp, ít xe. 5 giờ sáng, biển tối đen, trừ những vùng có đèn của ngư dân chiếu sáng.

Qua khỏi dốc Bãi Tiên, quành ra hướng Lương Sơn, đường tối và vắng tanh, bên núi bên biển, tôi chợt rùng mình nghĩ đến bất trắc, cảm giác y như lần chạy xe từ Lấp Vò về Đinh Yên giữa đêm khuya (3). Chừng nửa tiếng, con đường đã nhập vào QL1A, có nhiều hàng quán bên đường, tôi yên tâm. Dự tính ra Quán Gió Phú Hữu dừng chân ăn sáng, nhưng thấy trời vẫn còn tối, nên chạy tiếp ra Vạn Giả, nơi ngày xưa một thời tôi hành nghề “gõ đầu trẻ”. Lúc qua xã Lạc An, “căn cứ cách mạng”, tôi rờn rợn nhớ lại ngày trước mỗi sáng thứ hai chạy xe từ Nha Trang ra, đều thấy xác người xếp hai bên đường, mặt đường thì khẩu hiệu vôi trắng: “Đả đảo (...)”.

Vạn Giả nay khác hẳn, Quốc lộ qua thị trấn là đại lộ hai chiều, hoa lá cành lịch sự và vương giả (4). Nhà cửa nhiều chỗ lên cao mấy tầng. Đến ngã ba rẽ vào chợ, góc đường có nhiều quán cà phê vỉa hè, tôi dựng xe điểm tâm. Món an toàn vẫn là bánh mì trứng chiên, tuy nhiên cũng dòm chừng xem trứng giả hay thiệt. Phải nói người Tàu thứ gì họ cũng làm để có tiền, không nghĩ gì đến sinh mệnh người dùng. Nói đến hàng hóa của người Hoa, ai ai cũng biết, nhưng dường như không mấy ai quan tâm tránh né. “Chết no hơn sống thèm”. Người trong nước đang trên đà đầu độc nhau, chính vì vậy mà nhiều kẻ phất giàu rất nhanh, rồi ngã bệnh cũng nhanh. Ly cà phê 3.000 đồng, bánh mì 6.000 đồng, bữa sáng chỉ 60 cent, cho dù đang trong cơn khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Việt Nam ăn uống vẫn rẻ (đối với thế giới) không đâu bằng.

Ra ngoài thị trấn Vạn Giả là Tu Bông, tưởng gặp gió to, “Mưa đồng Cọ, gió Tu Bông”, nhưng thời tiết bình thường, trong trẻo mát mẻ.


262h2.jpg


Trên đèo Cổ Mã


Qua đèo Cổ Mã, đèo như một dốc cao, lên đèo ôm một đường cong, xuống đèo đường ngoằn ngoèo dài hơn. Trên đỉnh đèo có nhà hàng Cổ Mã vắng hoe. Nhưng từ đây nhìn ra hòn đảo (không rõ tên) cách bờ chỉ vài trăm mét, đảo có hình dáng đẹp mà hoang vắng.


262h6.jpg


Biển Đại Lãnh


Nhìn về Đại Lãnh, cảnh đẹp như thuở nào. Bãi biển cong cong cát trắng ngà, sóng nhè nhẹ, bãi dài đến tận chân đèo Cả, nơi ghe chài lớp lớp hàng hàng. Tôi dừng chân từng chặng để chụp ảnh. Trên đỉnh đèo thấy đã hay, xuống lưng chừng đèo cảnh càng hay hơn. Đại lãnh là bãi tắm lý tưởng: Nước cạn, không sóng to, sạch đẹp nên thơ, vậy mà du lịch như không mấy khá. Một dãy nhà hai tầng dựng xong bộ sườn rồi bỏ mặc cho gió mưa gặm nhấm đã mấy mươi năm, còn “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Đúng là mang bạc tỉ bỏ biển!


262h4.jpg


Khu du lịch Bãi Tiên bỏ hoang


Tôi lại ghé vào một quán nghỉ chân. Quán chỉ một hai người khách, gọi ly cà phê đen không đường, xin thêm ly nước sôi, một tí cà phê pha với sữa bột mang theo để có ly cà phê sữa. Cà phê chỉ để có mùi vị tí thôi, cũng là cách giảm thiểu mầm độc hầu hết trong thức ăn nước uống tại Việt Nam ngày nay. Nhìn ra hàng dương ngoài bãi, tôi chợt nhớ nhiều năm trước, đi tìm đền Lương Văn Chánh (Tuy Hòa), lúc dừng chân giải lao, tôi đã gặp một cô gái duyên dáng hiếm có. Tôi không nghĩ ở một nơi xa xôi như vầy lại có cô hàng xinh đẹp như thế. Đôi mắt to long lanh lúc nào cũng như muốn cười. Khuôn mặt đẹp nhu mì, tôi kéo dài thời gian bằng cách nhâm nhi cà phê tí một, và nảy ý tìm một ảnh minh họa cho truyện “Mùa nước lũ”: Cảnh Thảo thay áo trên đồi Thiên An (5).


262h5.jpg


Quán bên đường


Nghĩ vậy nhưng chưa biết gợi chuyện thế nào, đúng lúc cô hàng mang ra bình trà và cười hỏi tôi:

- Chú là nhà báo hả?

- Không, chú chỉ đi du lịch tìm cảnh đẹp thôi. Đại Lãnh đẹp lắm nhưng giá có được người mẫu nữa thì hay biết mấy?

- Người mẫu là sao chú?

- Ý là chụp cảnh có bóng dáng người, nhất là có một tà áo thì tuyệt...hay là...

- Chú nói sao?

- Hay chú nhờ cháu làm người mẫu rồi chú trả công nhé?

- Cháu biết gì mà làm mẫu, làm mẫu là làm những gì chú?

Tôi chợt nhớ trường hợp chị Vân gánh than ở Bát Tràng năm xưa (6) và tự nhủ “cố thuyết phục chắc được”.

- Thực ra làm mẫu là chẳng làm gì cả.

- Thế sao chú nhờ?

- Thì gọi là cho có người thôi.

- Vậy thì ai chẳng được, họ ngồi ngoài bãi biển nhiều đó.

- Nhưng mà họ không giúp được, nghĩa là người vừa đẹp, vừa sẵn lòng làm những động tác mình yêu cầu.

- Như động tác gì hả chú?

- Chẳng hạn đứng bên gốc thông, đi men theo bãi biển, hoặc chỉ mỉm cười v.v…

- Như vậy là có làm, sao chú bảo không làm gì?

- Thế chú mới trả công.


262h3.jpg


Hình minh họa


Trong lúc cô hàng suy nghĩ, tôi thuyết thêm:

- Cháu cũng nên biết, việc gì cũng phải có cơ duyên mới thành, nghĩa là có sự cảm thông tâm đắc, chứ không phải “bạ đâu xâu đấy”. Cháu có áo dài không?

- Dạ có.

- Thế thì quá hay, giúp chú nhé?

- Vâng cháu chỉ giúp thôi chứ không công cán gì đâu. Chú làm văn nghệ mà.

- Được cháu giúp chú vui lắm, mọi việc tính sau. Bây giờ cháu cứ mặc áo cánh như vậy, mang theo áo dài thay sau. À cháu tên gì?

- Dạ mây trắng.

- Là Bạch Vân?

- Dạ đúng .

Cô hàng này cũng khá thông minh không kém cô gái Liêu Trai (7), tự nhiên tôi có cảm xúc pha trộn, vừa vui vừa hồi hộp. Bạch Vân gọi người trông quán rồi cùng tôi băng qua đường ra bãi biển. Qua khỏi chiếc cầu gỗ, tôi đưa Bạch Vân đến gốc thông già chênh vênh bên bờ lạch, cách xa cầu vài chục mét. Gốc cổ thụ sẫm màu làm nổi bật chân dung người con gái. Nhìn ngoài, khuôn mặt đã đẹp, nhìn qua máy, càng đẹp hơn, tôi bấm liên tục nhiều góc độ khác nhau, nhưng không cho người mẫu cười. Khuôn mặt Bạch Vân phảng phất nỗi buồn trầm tư mới gợi cảm. Đôi mắt lơ đãng nhìn vào lòng mình, như nhìn dòng nước lặng lờ chảy qua cầu, giây phút ít nhất một lần trong đời ai cũng có - Thiếu nữ nào mà không từng mang nỗi bâng khuâng xao xuyến… Tôi xoay máy, đổi góc nhìn, tôi tìm cho hết những nét đẹp thùy mị của người con gái may mắn lắm mới gặp. Khuôn mặt “cô gái miền Tây” (8) vui tươi rạng rỡ bao nhiêu, thì ở đây Bạch Vân trầm lắng bấy nhiêu.


(Xem tiếp Tản mạn 9)

Trần Công Nhung

02-2010

source

VienDongDaily

Thứ Ba, 23 tháng 3, 2010

Vài nét sinh hoạt Sài Gòn qua ống kính Nick Út


Vài nét sinh hoạt Sài Gòn qua ống kính Nick Út
Cập nhật lúc 9:52:46 PM - 21/03/2010
SÀI GÒN – Nhiếp ảnh gia Nick Út vừa thực hiện một chuyến đi Việt Nam trong tháng 3-2010. Ông cho biết chụp được nhiều hình ảnh về những khía cạnh cuộc sống người dân Việt trong chuyến đi này. Về lại Los Angeles lúc 1 giờ sáng thứ Bảy, 20-3, ông đã gửi ngay một số hình ảnh chụp tại Sài Gòn đến quý độc giả Viễn Đông.

nut-saigon_MG_3081w.jpg

Chở hàng ra chợ sớm - ảnh: Nick Út, chụp từ trên lầu khách sạn Saigon Boutique Hotel, số 57 Phạm Viết Chánh, Quận 1.

nut-saigon_MG_5391w.jpg

Hàng ngày tần tảo đẩy xe đi bán rau củ quả dạo - ảnh: Nick Út, chụp từ trên lầu khách sạn Saigon Boutique Hotel, số 57 Phạm Viết Chánh, Quận 1.

nut-Vespa02w.jpg

Một đôi tình nhân không đội mũ bảo hiểm, chở nhau trên chiếc Vespa ở trung tâm Sài Gòn, tháng 3-2010 – ảnh: Nick Út.

source

Vien Dong Daily

Thứ Tư, 24 tháng 2, 2010

Ở đây. Xuân cũng đang về


February 13, 2010


BÙI VĂN PHÚ/Việt Tribune

Hằng năm, theo nếp văn hoá Mỹ tôi gửi thiệp chúc mừng Giáng Sinh và Năm Mới đến người thân, bạn bè gần xa trong tháng Mười Hai dương lịch. Qua Giêng gia đình tôi thường nhận được Thiệp Tết từ quê nhà với nét thân quen của mai vàng, đào hồng, của cụ đồ nho, câu đối đỏ, của bánh chưng, bánh tét. Hình ảnh pháo Tết dường như đã không còn trên những cánh thiệp xuân ở quê hương. Những cánh thiệp còn chuyên chở theo nét chữ thân quen mà trong thời đại nối mạng toàn cầu chúng gần như đã thành đồ cổ. Quý lắm.

Tuần trước nhận thiệp và thư quê nhà, bạn hỏi Tết bên đó gia đình và cộng đồng có sinh hoạt gì không? Tôi chưa biết trả lời sao vì không chắc thời tiết trong những ngày Tết Việt ở đây sẽ như thế nào. Nắng ấm hay mưa tuôn. Nhắc đến Tết trước tiên phải chú ý đến dự báo thời tiết.

Hoa hậu trước giờ cắt băng khai mạc.Foto Bui van Phu

Hội Xuân Canh Dần ở Little Saigon, San Francisco .Foto Bui van Phu

Năm nay mưa nhiều ở cả hai miền Nam Bắc California. Vùng Vịnh San Francisco mây đen kéo về mỗi ngày đem theo những trận mưa lạnh. Nhưng không băng giá như bên miền đông. Bên nhà nếu bạn theo dõi thông tin từ Mỹ chắc cũng đã biết miền đông Hoa Kỳ từ Thủ đô Washington lên đến New York, Philadelphia mấy ngày qua tuyết đổ ngập tràn. Ngoài đường chỉ trơ trọi những hàng cây khô bọc tuyết, không người qua lại thì làm gì có không khí xuân với Tết phải không bạn. Tuyết đổ cao cả thước và gió buốt từ phía bắc thổi xuống khiến chính phủ phải đóng cửa trường học và công sở. Hội Tết cộng đồng chắc cũng khó thực hiện được. Còn lại chăng là không khí đón Tết quây quần trong gia đình, quanh bên lò sưởi. Hay Tết chỉ còn trong lòng mình thôi. Đã có lần tôi đón Tết như thế.

Mùa đông năm nay gợi nhớ cho tôi cái lạnh của năm 1976, là mùa đông đầu tiên của những người Việt rời bỏ đất nước ra đi trong biến cố 30.4.1975. Chân ướt chân ráo đến Mỹ, chưa biết Cali nắng ấm như thế nào thì đã trải qua một mùa đông lạnh buốt ở đây. Ngồi trong lớp học ESL, ngó ra cửa sổ thấy tuyết lất phất rơi. Cô giáo nói đã bao nhiêu năm rồi nay mới thấy tuyết rơi ở đây. Không nhiều. Chỉ thoáng một lớp mỏng rồi tan ngay.

Chọn nhánh đào về đón Xuân. Nguyễn Đạt

Cụ Nguyễn Phú Biên, bên trái, và cụ Đặng Tân đang chỉnh lại áo quần và nơ trước giờ khai mạc hội xuân. HÌNH BÙI VĂN PHÚ

Trẻ em Việt với quốc phục trong Hội Xuân Canh Dần. HÌNH BÙI VĂN PHÚ

Tết ở quê người nhưng không thiếu bánh tét, mứt kẹo. HÌNH BÙI VĂN PHÚ

Năm 1976 miền đông Hoa Kỳ cũng đã trải qua những trận bão tuyết kéo dài như năm nay. Hết mùa đông băng giá, nhiều người Việt ở đó đã tây tiến. Rủ nhau về miền Cali nắng ấm.

Năm nay San Francisco cũng lạnh hơn. Những ngọn đồi quanh đây đã có nhiều ngày lất phất tuyết rơi trên cao độ dăm bảy trăm mét. Nhưng tuyết chưa xuống thấp như năm 1976.

Gần như cả tháng Giêng tây và đầu tháng Hai trời cứ mưa suốt. Nhưng đến Chủ nhật 7 tháng 2 thì lại nắng ráo. Thật là điều may mắn cho cộng đồng vì hôm đó cũng là ngày có Hội Tết Canh Dần San Francisco, tổ chức ngay khu Little Saigon góc đường Larkin và Ellis.

Ban tổ chức vui với ánh nắng, còn quan khách đến dự không phải mang theo ô dù. Trên sân khấu có bàn thờ Quốc Tổ. Bô lão lên đọc bài văn khấn “Bảo toàn đất tổ.”

Quốc Tổ Hùng Vương dựng nước non
Con cháu Hồng Lạc giữ giang sơn
Noi gương anh hùng cùng liệt sĩ
Mê Linh nổi sóng Trưng Nữ Vương
Ngô Quyền quyết dành lại biên cương
Bạch Đằng Giang vang danh Hưng Đạo

Đồng hương hồ hởi tham quan hội chợ, ăn uống, nghe nhạc. Tôi theo đoàn người du xuân, có đến vài nghìn người, vào giờ cao điểm là giấc trưa.

*

Chiều về anh em quây quần bên chiếc màn hình khổ 1 mét, vừa nhậu vừa coi trận vô địch bóng cà-na của nước Mỹ giữa đội Colts và Saints. Ăn nhậu, coi thể thao cùng đánh cá luôn làm cho buổi họp mặt sôi động hơn, có khi từng phút giây. Nói thiệt với bạn, xem những trận đấu banh cà-na tôi thấy có nhiều hồi hộp hơn coi bóng đá. Hồi hộp trong từng giây khắc. Kết quả đội Colts thua. Tôi cũng thua cá.

Sau đó anh em tụ lại đánh bài. Đúng là vui như Tết. Dù ở đây đang là giữa mùa đông của xứ người.

Gửi bạn ít hình ảnh đón Tết của cộng đồng ở đây. Một tấm hình bằng nghìn lời viết. Bạn đồng ý chứ. [BVP]

source

Viet Tribune Online

Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2010

Tết Sài gòn


February 19, 2010


NGUYỄN THỊ LAN ANH/Việt Tribune

Mùng một Tết, Sài gòn rất ít xe. Đường phố vào buổi sáng yên tĩnh, sạch sẽ và tràn ngập hoa xuân. Sau những ngày vất vả lo Tết, sáng mùng một, người Sài Gòn hầu hết dậy muộn, ra đường còn muộn hơn, thậm chí nhiều người còn hoàn toàn bế môn để được tự do… bế nhau.

Ngày Tình Nhân
Nói vậy vì mùng một Tết trùng với Ngày Tình Nhân 14 tháng 2 khiến nhiều hoạt động mua bán hoa quà, du ngoạn, ăn uống, vui chơi ngoài trời dành cho những kẻ trúng mũi tên của thần Cupid – thần tình yêu – bị tết cổ truyền “lấn sân” hết. Tuy thế, thống kê sơ bộ cho thấy, trường hợp tìm “cõi riêng” tại gia không phải là đa số. Vì ngay trên đường Nguyễn Du, kẻ viết bài chứng kiến và kịp ghi hình cảnh một ông tây già mua hoa âu yếm trao tặng bà đầm (cũng già) của mình. Trong Hội Hoa Xuân Tao Đàn cũng không ít cặp vợ chồng sắp hàng chờ đến lượt mình chui vào trái tim kết bằng lá xanh, nhờ kẻ viết bài “chụp một tấm cho thật tình tứ vào”. Không chọn biểu tượng trái tim, không tặng chocolate hay hoa hồng để thay lời muốn nói vì “xưa lắm rồi”, hai bạn trẻ đứng xem viết thư pháp ở nhà văn hóa Thanh Niên đã chọn áo cặp. Chàng có công mua. Nàng có công mặc. Mùng một, rủ nhau dung dăng dung dẻ chốn đông người trong một mầu áo chung như muốn tuyên bố với thiên hạ về “nỗi chung, chung cả đến tình riêng”của mình.

Biểu tượng đường hoa xuân Canh Dần (đầu đường Nguyễn Huệ) Photo NTLan Anh/Việt Tribune

Xuất hành đầu năm
Coi hướng, chọn giờ xuất hành, đối với người lớn tuổi, người làm ăn buôn bán, là rất quan trọng vì quyết định vận hạn cả năm. Để biết hướng tốt, giờ tốt nhiều người tới các “shop” tử vi trước chùa Vĩnh Nghiêm, bỏ ra một ngàn đồng mua tờ tử vi photocopy lem nhem. Tùy theo tuổi gì, nam mạng hay nữ mạng, tờ tử vi sẽ cho biết phải đi hướng nào, giờ nào để nghinh đón tài thần, phúc thần. Người không tin bói toán lại có cách xuất hành khác- đi chùa lễ Phật vào giờ giao thừa, trở về tự xông đất lấy. Chùa Phổ Quang – Tân Bình năm nay đặc biệt đông khách giờ giao thừa do có tượng Quan Âm tạc bằng ngọc thạch lớn nhất, công phu nhất, quý nhất Việt Nam, mới được cung nghinh về cho Phật tử chiêm bái (trước khi đưa ra Đà Nẵng an trú luôn). Khuôn viên đồ sộ của chùa Phổ Quang ngày thường rất thanh tĩnh, trang nghiêm, từ khi “chứa” tượng Phật, chưa được một ngày, tính từ giữa đêm ba mươi tới sáng ngày mùng một, đã biến thành chợ bán kinh sách, nhang, hoa, tượng ảnh, chim chóc, thêm đội quân hành khất, giữ xe, móc túi…Tất cả thi nhau hành nghề, tạo nên sự nhếch nhác, bẩn thỉu, và bất an cho chốn thiền môn. Trước cảnh này một Phật tử có tuổi ngao ngán nhận xét “Lễ Phật mà không thấy Phật, chỉ thấy chen lấn chụp giật. Đúng là cõi Ta Bà!”

Nhiều cái để xem
Mùng một, mùng hai, mùng ba đi trên đường phố Sài Gòn ai khó tính nhất cũng phải khen sạch sẽ và nhiều hoa tươi. Không có cảnh kẹt xe, không có bụi mù mịt và những bộ mặt cáu gắt, căng thẳng. Rạp xi nê chiếu các phim phù hợp với tuổi teen như Những nụ hôn rực rỡ, Khi yêu đừng quay đầu lại, Công chúa teen và ngũ hổ tướng…Giá vé hơi cao-70.000 đồng – nhưng một nhóm học sinh lớp chín, đứng chờ mua vé ở rạp Tân Sơn nhất đã cười toe toét nói “tết có tiền lì xì, lo gì”. Cũng tâm trạng “tết có tiền lì xì, lo gì” người tiêu dùng ít cò kè, thắc mắc khi sử dụng dịch vụ tráng phim, rửa hình, giữ xe, mua “cafe togo”, ăn vặt vỉa hè, ủng hộ nghệ sĩ đường phố. Nói tới “nghệ sĩ đường phố” trong ba ngày tết, người ta hiểu là đám múa lân. Hiểu thế đúng nhưng chưa đủ vì năm nay, ngoài đám múa lân còn thêm đám múa…”Thượng”- người Kinh gọi người thiểu số là người Thượng. Ngay mùng một tết, trước nhà thờ Đức Bà, xuất hiện một đám múa Thượng như thế. Họ từ tỉnh Bình Phước đem xuống Sài Gòn đầy đủ một dàn chiêng, một dàn nữ vũ công thiểu số chính hiệu (không rõ thuộc tộc nào, Stiêng hay Mạ?) thu hút rất đông khách xem, trong đó hầu hết là người nước ngoài. Một chiếc gùi được ông trưởng đoàn đặt phía trước. Khách đứng xem tự động bỏ tiền vào đó. Đến gần, tò mò nhìn vào gùi, kẻ viết bài thấy bất nhẫn vì trong lòng gùi rộng lớn chỉ lác đác vài tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (50 cent), 20.000 đồng (1đôla) trong khi người đứng xem đông dễ đến năm bảy chục người. Đoàn múa Thượng, dù sao cũng còn may, vì kiếm được tiền. Chứ đoàn thần tài chúc xuân mới thật là dị hợm. Thấy nhiều nhà làm ăn hay mời lân đến múa lấy hên, múa khai trương đầu năm rồi thưởng tiền hậu hĩnh, năm nay, nhiều người nảy ra sáng kiến: qui tụ dăm bảy đứa tiểu yêu, cho mặc áo đỏ, bịt khăn đỏ, đánh trống đi rong, thấy nhà nào mở cửa là xông vào. Một anh thần tài đội mão, mang râu chúc tết gia chủ trong tiếng trống rộn ràng. Chủ biết điều lì xì. Chúng cám ơn, đi ngay. Nếu không sẽ đứng lì nện trống cho rách màng nhĩ cả xóm. Nói về loại “nghệ sĩ mới” này, các thành viên của hai đội lân danh giá nhất Sài Gòn là Nhơn Nghĩa Đường, Hằng Anh Đường chỉ nhún vai, cười im lặng với nghĩa “miễn bình luận”.

Biểu tượng đường hoa xuân Canh Dần ( đầu bến Bạch Đằng) Photo NTLan Anh/Việt Tribune

Một điểm thu hút nhiều khách tham quan trong ngoài nước nhất, “đốt” nhiều phim của giới quay phim chụp ảnh nhất, phải kể tới đường hoa Nguyễn Huệ. Từ năm Ất Dậu 2005 đến nay, năm nào cũng vậy, cứ quãng 28 Tết tới mùng ba Tết, Sài Gòn lại hình thành một đường hoa ngay địa điểm trước đó nhiều năm liền từng là chợ hoa Nguyễn Huệ. Có tiệm bán tranh thêu ngay khu vực Nguyễn Huệ, vô hình trung là giám khảo tất cả những lần diễn ra đường hoa các năm Dậu – Tuất – Hợi – Tý – Sửu, và bây giờ là Dần, anh L. nhận xét “Năm nào cũng mấy cái lu gốm, chong chóng, đèn lồng, cầu tre, ao sen, ruộng lúa, cũng đủ thứ hoa chi chít chằng chịt từ đầu tới đít con đường. Coi lần đầu còn thấy lạ, thấy đẹp. Coi riết ngán”. Nói như anh L.có vẻ “mất lập trường, sai đường lối”, phải nói là đường hoa mỗi năm mỗi đẹp hơn, hoành tráng hơn, chứng tỏ đất nước nói chung, Sài gòn nói riêng, luôn phát triển, phồn vinh năm sau cao hơn năm trước. Đối tượng được chụp ảnh nhiều nhất trên trục đường hoa, đồng thời là linh hồn đường hoa, chính là con vật cầm tinh của năm mới tính theo âm lịch. Năm trước là trâu đất bằng gốm, trang điểm theo kiểu tranh Đông Hồ. Năm trước nữa là chuột đan kết bằng mây tre, lục bình. Năm nay là đôi hổ bằng sơn mài, vàng choé. Có lẽ vì nhằm minh hoạ chủ đề Xuân Bình Minh, đôi hổ con đứng con nằm đều không có vẻ dũng mãnh mà ngược lại hết sức đù đờ, kiểu hổ giấy (!). Nhiều du khách đến từ Châu Âu (lúc này đang giá rét) tỏ ra bị choáng ngợp vì bạt ngàn hai màu vàng – đỏ của hoa cúc, hoa mào gà và hoa mai, những loại hoa tiêu biểu của phương nam quanh năm nắng nóng. Họ phơi trần da thịt đến mức tối đa, giữa giờ Ngọ, đi chơi đường hoa, thản nhiên cười nói, chụp ảnh, trong khi người bản xứ trùm áo lên đầu, trú nắng bằng bất cứ phương tiện gì có được. Hỏi chuyện các trẻ bán bong bóng đang ngồi núp dưới đám bong bóng sặc sỡ khổng lồ, các em cho biết mỗi cái bong bóng từ mười tới hai chục ngàn. bán mỗi buổi lời bằng hai ba ngày thường. Tết, đối với các em là rong ruỗi ngoài đuờng, “vừa bán vừa coi người ta ăn Tết”.

Bán hoa khổ lắm! “Coi người ta ăn Tết”, câu nói này khiến kẻ viết bài nhớ lại ngày 29 Tết, đã nghe nhiều chủ ghe hoa kiểng đậu bến Bình Đông nói tương tự- “Tết này có môn coi người ta ăn Tết chứ mình đừng hòng có Tết mà ăn”. Một cô gái lui cui tưới mai trên ghe cho biết “Tụi em ở Bến Te (Tre) lên. Mấy năm trước ghe cặp bến này, lên thẳng Chợ Lớn bán rất tiện. Năm nay chỗ đó là đại lộ Đông Tây, cấm lên. Phải lên bên phía quận 8. Mà bên quận 8, lề đường quá nhỏ, người bán dưa hấu, quần áo…ngồi chật hết. Mình đâu có chỗ…” Vậy phải làm sao? Chết ngắc chứ làm sao! Câu trả lời của người Bến Tre phản ánh một thực tế đau lòng. Ghe bầu lớn hai tầng, tầng trên tầng dưới chật kín tắc kiểng, mai vàng, bon sai. Bị nhốt dưới ghe hầm hơi, tất cả hoa kiểng đều rũ đầu, xuống sắc. Thương cây, xót của, chủ ghe đành bắc ván lên bờ, mua từng thùng nước ngọt xuống tưới. Người mua (đứng phía bên Chợ Lớn) theo đó xuống coi hàng, trả được giá xong đi lên. Chủ ghe canh chừng đội bảo vệ (đóng trên bờ) ngó lơ sẽ khiêng cây lên sau. Trả tiền, buộc cây đều hối hả sợ sệt như đi ăn trộm. Đứng xa xa, một khách chỉ chậu mai vàng uốn thế “phản phong hồi đầu” rất đẹp, hỏi giá. Ở dưới ghe, vọng lên tiếng đáp “Năm chục ngàn. Thương thì mua giùm, đừng trả giá”.

hôi hoa bằng xe ba gác. Photo NTLan Anh/Việt Tribune

Cũng cùng cảnh bi đát với đồng nghiệp bán hoa ở bến Bình Đông là dân Hải Dương bán đào ở công viên Hoàng Văn Thụ và dân Sa Đéc, Gò Vấp, Cái Mơn bán hoa cúc hoa mai ở công viên Lê văn Tám. Trước Tết, nhà vườn nào cũng kêu oai oái vì thời tiết ấm lạnh thất thường, thêm nhuận một tháng khiến hoa lớp nở sớm, lớp bị “lạc quẻ”. Họ dự đoán thị trường hoa sẽ ít ỏi, và hoa sẽ cao giá, người Sài Gòn sẽ không có hoa mà chơi. Nào ngờ, giờ chót hoa ùn ùn đổ về Sài Gòn. Trăm người bán mới có một người mua. Ba mươi Tết, vào 12 giờ trưa, khi ban quản lý các công viên yêu cầu người bán hoa trả lại mặt bằng cho công nhân vệ sinh quét dọn thì số phận của muôn hồng ngàn tía ngay lập tức rơi vào vòng bi thảm. Chứng kiến cảnh hôi hoa bằng xe hơi, xe ba gác, xe gắn máy, thậm chí khiêng chạy bộ, ở công viên Lê Văn Tám, nhiều Việt kiều đã bụm mặt quay chỗ khác vì thương hoa, thương người trồng hoa, bán hoa. Chị Tuyết, chủ một quầy hoa cúc, khản đặc tiếng, khua tay ngăn cản trong tuyệt vọng mấy người đàn ông đang lao vào ôm, xách, lôi kéo hết sức thô bạo các chậu hoa cưng của chị – một giờ đồng hồ trước đó còn có giá 70.000 đồng/chậu. Cảnh hôi hoa giữa lòng Sài Gòn được tiếng là giầu có, hào hoa, chịu chơi, quả là một sự tàn nhẫn, khó coi hết sức. Càng khó coi hơn khi “lễ hội hôi hoa” chấm dứt, thiên hạ đi hết, để lại chiến trường toàn chậu hoa đỗ ngã, bông hoa lăn lóc, cành hoa bị quăng quật, giầy xéo tan nát. Kỳ lạ thay, trong ba ngày Tết, ở Hội Hoa Xuân Tao Đàn hoa được chiêm ngưỡng bằng con mắt nhà nghề, được chấm điểm, tôn vinh; ở đường hoa Nguyễn Huệ hoa được trình bầy, xếp đặt thành biểu tượng văn hóa thành phố, thì ở các chợ hoa công viên, hoa lại bị thẳng tay cướp bóc chà đạp. Té ra hoa cũng có số phận! Cũng là Thúy Vân, Thúy Kiều! Và Tết Canh Dần, ở Sài Gòn, hình như không chỉ có toàn mặt phải, niềm vui, và lẽ công bằng![NTLA]
source
Viet Tribune Online

Thứ Sáu, 5 tháng 2, 2010

Cao hổ, cao mèo chuyện cũ vẫn mới!


January 30, 2010


NGUYỄN THỊ LAN ANH-Việt Tribune

“Cuối năm trâu, đầu năm hổ, chúc các ông khoẻ như trâu, giầu như hổ. Một hai ba, dô!”, tiếng hô nhịp nhàng cùng tiếng cốc tách chạm nhau vui vẻ không át được tiếng điện thoại đột ngột réo vang. Ông Tổng nghe vài câu, cáu kỉnh cắt ngang “Nghe cho kỹ, 4 triệu một ký, vị chi trăm ký là bốn trăm triệu, không cò kè. To gì! Phải cỡ đó trở lên bộ xương mới nặng chục cân, nấu mới được…”. Nội dung điện đàm khiến kẻ viết bài tò mò, hỏi ông Tổng con gì, nấu gì. Ông thủng thẳng trả lời, con hổ, nấu cao hổ. Nhân năm hổ, xin cung cấp vài hiểu biết về cao hổ, cao tiểu hổ (mèo) thuộc loại “biết rồi, khổ lắm, rồi sao nữa!”

Cao hổ cốt

Ở Sài Gòn muốn xem hổ, không khó. Xem hổ đẹp đẽ oai phong thì đến khu vực nuôi thả bán tự nhiên trong công viên giải trí Đại Nam (Bình Dương). Xem hổ nằm nhiều hơn đứng, ốm o sầu thảm thì đến thảo cầm viên, nơi đang “giam giữ” ba ông kễnh trong những chuồng cài xung điện 8000v quanh lưới sắt.

Hổ - nguyên liệu chính của nồi cao hổ cốt. Photo NTLA/Việt Tribune

Quan sát hổ, ai cũng phải công nhận, dù thả trong khu bảo tồn, nhốt trong chuồng, vẽ trên giấy, đắp trên tường hay thêu trên áo thì ở hổ luôn toát ra uy lực khó tả. Đôi mắt hổ lừ lừ, hai nanh nhọn, cơ thể to lớn, đi đứng uyển chuyển mềm mại, hai chân trước tát một phát bay luôn nửa mặt người… Chả vậy mà hổ được tôn là chúa sơn lâm. Dân gian thờ hổ ngũ sắc, gọi là ngũ phương chi thần. Trẻ con hay khóc, khó nuôi, bố mẹ chuốc tranh hổ đen về trấn, tết chỉ năm sắc thành vòng cho đeo ở tay lấy khước. Trong đình trung hổ được thờ như sơn thần, gia tướng, được gọi là ông hương cả, ông ba mươi. Cánh đàn ông, nhất là võ tướng, trùm băng đảng rất ngưỡng mộ hổ. Họ căng bộ da hổ nơi bàn bạc quân cơ (nên chỗ ấy gọi là hổ trướng), đeo nanh hổ, vuốt hổ trước ngực, xăm hình hổ trên mình, lấy danh hổ đặt cho lực lượng quân đội (sư đoàn mãnh hổ, bạch hổ), tạo dáng đi như hổ, ăn như hổ, gầm như hổ, thậm chí say máu như hổ (tướng Hứa Chữ của Tào Tháo, được gọi là hổ cuồng)…Trong mười hai con giáp, có lẽ ngoài rồng (thìn), chỉ hổ mới được con người dành cho sự tôn kính, sợ hãi lẫn ngưỡng mộ đến vậy.

Những tưởng sợ thì không dám “vuốt râu hùm”, nào ngờ sợ cứ sợ mà giết cứ giết. Đầu thế kỷ XX cọp Việt Nam còn khá nhiều (cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận) sang thế kỷ XXI đã gần như tuyệt chủng. Muốn có, phải lén lút nhập xác hổ từ Thái, Miến, Lào qua biên giới. Nếu chẳng may bị bắt thì tang vật bị tịch thu, người mua bán, chuyên chở bị truy tố. Giết hổ, mua hổ bị giết, đành là để lấy da, nanh, vuốt, râu (đốt đi, làm thuốc độc, tẩm mũi tên) nhưng chủ yếu là lấy bộ xương để nấu cao. Cao nấu từ xương hổ, gọi là cao hổ cốt.
Nói về tác dụng của cao hổ cốt, từ giới nghiên cứu dược học, y học đến các lang tây, lang ta đều biết xương hổ chứa lượng acid amin cao gấp 900 lần xương các loài động vật khác, đồng thời tỷ lệ đạm toàn phần rất cao nên có tác dụng dược lý rất mạnh, dùng trục phong, trừ thấp, trấn thống, chống viêm, cải thiện đáng kể sức khoẻ, sự minh mẫn, dẻo dai cho con người

Muốn nấu cao hổ, trước hết phải có xương hổ đủ bộ. Công thức chung cứ “năm hổ một sơn dương” (có nơi thêm một xương bộ khỉ) với cái lý là hổ rất dương, phải có âm “kéo lại”. Xương hổ là dương. Xương sơn dương, xương khỉ là âm. Không đủ âm, dương không nấu được, nên mới có câu “phi sơn dương bất thành hổ cốt”.

Thợ nấu cao thường không đi một mình, mà đi cùng một hai thợ phụ, mang theo búa tạ (để quai vỡ xương hổ) và những cái soi sắc nhọn bằng sắt (để nạo tủy). Quá trình nấu cao bắt đầu với việc kiểm xương, sắp xương thành bộ. Sau đó “làm vệ sinh” cho xương
thực kỹ bằng vô số những lần ngâm tẩm trong “hóa chất” dân gian như nước vo gạo, nước dấm, nước rau cải (có người cầu kỳ ngâm luôn xương hổ trong dòng suối chảy mạnh hàng tháng trời) rồi đánh sạch bằng cát, giấy nhám trước khi sao vàng, chẻ nhỏ cho vào nồi nấu với nước mưa. Thời gian từ khi bắc bếp đến khi ra thành phẩm là bảy ngày bẩy đêm (đun hết 4 bình gaz loại 12 kí). Ba ngày đầu đun xương với lửa vừa. Cạn lại châm thêm nước sôi. Tới ngày thứ tư bắt đầu chắt nước cốt nhất. Cho nước sôi đun tiếp, chắt lấy nước hai, rồi nước ba. Ba nước này đổ chung, cô lại, kỳ cho tới khi cao đặc kẹo, có mầu cánh gián sẫm, mới đổ ra khay, chờ nguội, cắt thành những miếng 100gam, bọc giấy bóng.

Trên thị trường hiện nay, cao hổ cốt có giá tới 20 triệu đồng một lạng, mà chưa chắc muốn mua đã có, mua được cũng chưa chắc thật 100%. Giá cao ngất ngưởng, phần vì các công đoạn nấu cao quá cầu kỳ, vất vả, phần khác, nguyên liệu nấu cao thuộc mặt hàng quốc cấm. Các đại gia Hà Nội, khi đã “sưu tầm” đủ năm bộ xương hổ là rước luôn thợ nấu cao về ăn ở trong nhà, quây buồng kín, nội bất xuất, ngoại bất nhập trong bẩy ngày đêm. Cẩn thận thế nhưng năm ngoái cũng không tránh khỏi bị công an “khui buồng” hết mấy trận, báo chí thi nhau đưa ảnh thịt hổ trữ trong tủ lạnh, để trong bao bố, đặt trên sàn nhà chuẩn bị lóc thịt làm dư luận …phát thèm. Vì tuy không phải ai cũng có dịp trông thấy mặt mũi miếng cao hổ cốt nhưng tiếng đồn về tác dụng chữa đau nhức khớp xương, tê bại chân tay, mau liền chỗ gẫy, tăng sức mạnh thần kỳ của nó thì ai cũng tin sái cổ, trong đó có cả kẻ viết bài. Còn nhớ cách nay hơn bốn chục năm, khi rừng Tây Nguyên còn hổ, thi thoảng ông bác họ khoe “đọp”được một “Ông Ba Mươi”. Dịp tết từ Ban Mê Thuột về Sài Gòn chơi, ông mừng tuổi cụ nội một lạng cao hổ màu cánh gián. Cụ sai con dâu chặt nhỏ từng miếng như hạt lựu, cho vào rượu trắng tốt ngâm bách nhật, mỗi ngày trước khi đi ngủ, uống nửa chung nhỏ. Không biết có phải nhờ vậy không mà bảy mươi tuổi cụ vẫn da dẻ đỏ đắn, tinh thần minh mẫn, nghe đâu còn vẫn “long hổ quyết đấu” ngon lành với bà vợ lẽ (!).

Cao tiểu hổ

Trên nguyên tắc, mèo là loài thú giống hệt hổ, chỉ phải tội nhỏ hơn nhiều. Xương mèo cũng dương như xương hổ, khi nấu phải cho thêm xương rắn độc (rắn là loài bò sát nên được cho là âm) để cân bằng âm dương. Trong bộ xương mèo, xương hổ, quý nhất là xương vai và xương hai chân trước. Lơ mơ có thể bị đánh tráo bằng xương gấu, xương chó, thậm chí xương… thạch cao. Ngay dân trong nghề cũng vẫn lầm như thường. Anh Vĩnh, hiện làm giám sát công trường xây dựng ở tỉnh Lâm Đồng, trước là tay nấu cao có tiếng, cho kẻ viết bài hay bản thân anh từng chứng kiến bọn bất lương sau khi lấy cắp những xương quý nhất của bộ xương hổ, đã dùng máy mài, máy khoan biến xương trâu, xương gấu thành xương hổ, lắp vào vừa khít chỗ bị khuyết, “nhìn bằng mắt thường đến thánh cũng không phân biệt được thật giả”.

Biết anh Vĩnh đang chuẩn bị nấu mẻ cao “thập nhị tiểu hắc hổ” – gọi thế vì nguyên liệu là 12 bộ xương mèo đen – kẻ viết bài đã lên Lâm Đồng, tìm vào lán trong rừng của anh xin xem cho biết. Anh Vĩnh lắc đầu, việc nấu cao, xin lỗi chị, đàn bà không được phép nhòm ngó. Hơn nữa, chỉ cái nồi đặt trên bếp lửa lom rom (đốt bằng củi tươi cho lửa nhỏ, chứ không đốt bằng củi khô, lửa to, cao dễ bị khê) suốt bảy ngày đêm, chả có gì thú vị để xem. Kể về quá trình nấu cao mèo đen anh Vinh bảo cao mèo có thể là cao toàn tính (để nguyên cả thịt) có thể là cao xương (lọc hết thịt, gân, tủy trước khi nấu). Cách nấu, cách chiết nước cốt lần 1, lần 2, lần 3 rồi đem cô đặc cũng không khác nấu cao hổ. Có điều xương hổ, xương mèo đen rất dương nên những người âm hư hỏa vượng (môi khát miệng khô, lòng bàn tay bàn chân nóng, thở ngắn, tiểu gắt, đổ mồ hôi trộm…) không dùng được, bắt buộc phải thêm xương sơn dương, khỉ, rắn để “âm hóa”. Những xương dương, xương âm này nấu thành hai nồi riêng, lấy nước cốt riêng. Rồi tùy bệnh, tùy tạng, tùy huyết áp cao thấp của người đặt nấu mà thợ nấu sẽ pha hai nước cốt thành một theo tỷ lệ thích hợp (có khi pha thêm cả thuốc phiện để “dẫn” thuốc) trước khi cô đặc, cắt thành bánh. Tại sao không nấu xương mèo tam thể, nhị thể, mèo mướp mà cứ phải mèo đen? Thay vì trả lời câu hỏi kẻ viết bài, anh Vĩnh hỏi ngược lại, thế thuốc lá Con Mèo, là mèo gì? Mèo đen! Nước tương Nam Dương hiệu con mèo, là mèo gì? Cũng mèo đen! Trong truyền thuyết, mèo đen tuyền được coi là linh miêu. Người chết chưa tẩn liệm, còn nằm trên giường, nếu không canh kỹ, để linh miêu nhẩy qua xác chết, xác chết sẽ bật dậy ngay. Đúng sai không biết nhưng mèo đen rõ ràng được coi trọng hơn, có vẻ thần bí hơn mèo thường. Suy ra, xương nó đem nấu cao cũng tốt hơn xương mèo thường.

Nồi cao “thập nhị hắc miêu” rốt cuộc cũng luyện xong, đổ ra khay còn dẻo, có mầu vàng nâu, nếm thử thấy vị hơi ngọt, béo, lạo xạo trong miệng trước khi tan. Có khách quen hỏi mua, anh Vinh thận trọng lấy dao, vừa cắt vừa véo một cục lớn, đóng vào khuôn lót sẵn nilon. Cầm miếng cao nặng đúng một lạng, giá 5 triệu đồng, ông khách cho biết người nhà bị bệnh khớp nặng, lại thêm chứng suyễn, nghe bảo cao mèo đen ngâm rượu uống rất hiệu nghiệm, nên mua thử.

Về lại Sài Gòn, ngồi “nấu cao trên giấy”, bên tai kẻ viết bài vẫn văng vẳng lời anh Vĩnh “Xương mèo đen, mèo thường gì đem nấu cao hoặc sao vàng, ngâm rượu bách nhật uống mỗi tối một chung nhỏ cũng trị được thoái hóa khớp, nhất là khớp tay, khớp gối, rất hay. Nhưng thịt của nó cũng hay không kém. Lấy xương xong, chớ vứt thịt đi mà nên vứt vào nồi. Bí quyết để thịt mèo mất mùi hôi là sau khi thui, lấy giềng sả giã dập xát kỹ, để một chốc, rửa lại bằng rượu trắng, rồi hẵng mổ (mổ xong cũng rửa rượu, nếu rửa nước thịt sẽ tanh). Thịt mèo nấu rựa mận ngon gấp hai lần thịt chó. Mùng một tết Canh Dần, chơi nồi rựa mèo, bảo đảm cả năm mọi việc hanh thông, phấn phát, không như mèo thì cũng như hổ”.[NTLA]

source

Viet Tribune

Thứ Tư, 9 tháng 12, 2009

Về Châu Đốc


Về Châu Đốc
Cập nhật lúc 5:05:10 PM - 08/12/2009

242h1.jpg


Nước thốt nốt


Bài và ảnh: Trần Công Nhung

Thói đời hễ cái gì mình sẵn có thì coi thường, nhưng khi mất đi lại nhớ tiếc. Tôi cũng mang tâm trạng đó khi biết mình sắp đến ngày đi Hoa Kỳ định cư. Xưa nay vì điều kiện đời sống không cho phép, hoặc vì lười biếng nên ở đâu cứ ở một chỗ. Giờ mới sực nhớ: Mình chưa biết gì về Quê Hương cả. Hơn nửa đời người mà chỉ có Nha Trang - Sai Gòn - Đà Lạt thì yếu quá. Phương chi mình lại là người chơi ảnh. Chơi ảnh mà không biết đất nước đẹp xấu ra sao thì đáng chê trách.

Dịp may đã đến, trong lúc đi tìm ngoại cảnh cho một bộ phim, đạo diễn Hồ Quang Minh (Việt kiều Thụy Sĩ) ghé qua nhà tôi chơi. Thấy tôi treo biển bán nhà, ông ta hỏi:

- Anh bán nhà rồi đi ở đâu?

- Có lẽ gia đình tôi đi Mỹ vào cuối năm nay.

Ông ta đứng yên một lúc, đưa mắt đảo quanh sân kiểng của tôi rồi chợt hỏi:

- Thế cây kiểng của anh?

- Ai mua tôi bán luôn.

- Anh bán bao nhiêu?

- Ba cây (vàng).

Ông lại làm thinh và như đang nhẩm tính đắt rẻ. Tôi nói thêm:

- Còn cả vườn sau nữa, ít ra cũng gần hai trăm chậu lớn nhỏ.

Sau khi ra xem vườn, nhà đạo diễn lên tiếng:

- Tôi không biết vàng bao nhiêu, tôi đưa anh 1.200 Mỹ kim, và anh chở về Sài Gòn giùm tôi.

Tất nhiên là tôi chịu, giá mà ông ta bảo 500 thôi, cũng đã quí rồi. Dầu vậy, đâu phải ra đó. Tôi đáp:

- Anh là người thích cây kiểng, giao cho anh là điều may mắn, hơn thiệt chút đỉnh chẳng sao. Cốt chỗ điệu nghệ với nhau, chứ mọi sự ở đời chẳng có gì bền lâu. Riêng chuyên chở ...

Tôi nói chưa hết câu ông ta đã tiếp lời:

- Tôi gởi anh thêm triệu rưởi để thuê xe và công chở vào Sài Gòn. Nếu anh đồng ý, tối nay mời anh ra khách sạn Hải Yến tôi gởi trước anh một ít.

Bàn tính mọi việc xong, khi người khách ra về, tôi mới sực nhớ mình đã hơi “đại ngôn”, bán mua cứ sòng phẳng chuyện gì phải “triết lý, thuyết giảng”…

Tôi có một người em định cư ở Mỹ, đã hơn 10 năm, khó khăn lắm mới gửi về cho 50 Mỹ kim, với số tiền trên phải nói là quá lớn đối với tôi. Năm trước, khách mua “trâu rừng” (1), tôi tưởng đã hào hoa, nay lại gặp người còn hào sảng hơn. Tôi tính ngày nhà đạo diễn quay về Sài Gòn, sẽ đưa cây vào ngay.

Chỉ mấy ngày sau, tôi đã đưa hết cây kiểng vào Sài Gòn cho nhà đạo diễn. Cây phải bê lên sân thượng chật hẹp trên lầu 3. Về sau mới biết, anh có cơ ngơi lớn trên La Ngà, nơi rất thích hợp cho số cây này.

Mọi chuyện xong xuôi, tôi làm một bài tính cho cuộc du hành Nam Bắc. Du lịch như Việt Kiều thì với số tiền này chẳng thấm vào đâu. Phải tính theo kiểu dân nội địa. Tôi mượn chiếc Cub 70 của người con rể, thay dầu nhớt, kiểm tra máy, hành trang gọn nhẹ, tôi chuẩn bị lên đường. Có thể làm một chuyến xuyên Việt. Chặng Nha Trang - Sài Gòn tôi đi suốt bằng xe lửa. Từ Sài Gòn đi Châu Đốc bằng Honda. Điều cần là làm sao để có hình ảnh qua từng chặng.


242h2.jpg


Rắn Đồng Tâm


Đến Mỹ Tho tôi vào thăm trại rắn Đồng Tâm. Ở đây nuôi đủ thứ rắn độc, dùng chế dược liệu. Có những loại rắn chưa bao giờ thấy, nhất là các giống rắn hổ. Rắn nuôi dưới những hầm sâu chừng một mét hoặc trong các chuồng lưới sắt. Xem để cho biết chứ thấy ghê lắm. Hổ báo cũng là thú dữ nhưng không ghê bằng. Thân hình của rắn làm cho ta nghĩ đến sự thâm độc. Truyện cổ có nhiều huyền thoại về rắn. Trong văn học có chuyện vụ án Lệ Chi Viên cũng được thần thoại hóa thành chuyện “Rắn Báo Oán”: Thị Lộ hiện thân của rắn hại ba đời công thần Nguyễn Trãi!

Trại có một trạm xá chữa rắn cắn mà bệnh nhân toàn là những người nuôi rắn. Đúng câu “Sinh nghề tử nghiệp” (Sống nhờ nghề, chết cũng vì nghề). Điều cũng dễ hiểu. Hai bên lối đi trong trại có trồng một loại cây trang trí, lá như lá răm. Nhân viên trại bảo đấy là cây thuốc trị rắn cắn. Có người bảo đó là cây khỉ, khỉ mẹ thường nhai làm thuốc cho khỉ con mỗi khi khỉ con bị thương tích. Một lần tôi về thăm quê Quảng Bình, người bà con đi trầm kể cho nghe:

- Đi trầm cực lắm, nhiều chuyến đi cả 10 ngày mà có được chi mô. Có bận đi tuốt qua biên giới Lào, chút nữa là bỏ mạng.

- Sao vậy anh, gặp cọp à ?

- Có mô, đụng ong.

- Đụng ong mà chết?

- Rứa mới sợ, ong chi không biết, nó chích tui một phát là mặt sưng liền. May trong bạn trầm có người biết, chạy hái cho tui một thứ lá, nhai nuốt là xẹp ngay. Tui tởn tới tra (tôi sợ đến già)

Tiếc là đời sống thôn quê gặp chăng hay chớ. Một loại thần dược như vậy mà không ai nghĩ cách nuôi trồng phòng khi hữu sự. Trong thiên nhiên còn bao nhiêu điều kỳ diệu mà con người chưa hề biết.

Rời trại rắn Đồng Tâm, tôi chạy về hướng Cao Lãnh. Cảnh đồng quê Nam Bộ nhìn cứ phẳng lì. Ruộng cò bay thẳng cánh. Làng mạc xa xa và rời rạc chứ không quần cư như Miền Trung. Tuy vậy trên sông lạch, sinh hoạt ghe thuyền rất hấp dẫn, tôi không còn cảm thấy đường xa hay mệt nhọc nữa. Trái lại, khám phá ra muôn vàn vẻ đẹp tiềm ẩn trong cuộc sống của giới bình dân lam lũ. Nếu không đi, khó mà biết được. Lúc dừng chân trên cầu Cao Lãnh để ngắm cảnh trời mây, tôi chợt thấy ba chiếc xuồng thi nhau chạy rẽ nước.


242h5.jpg


Trên sông Cao Lãnh.


Vừa chuẩn bị đưa máy lên chụp thì không hiểu sao, lúc gần đến cầu, ba chiếc xuồng bỗng quay một vòng đổi hướng. Cả mặt sông nhăn lại, dưới ánh sáng ngược, váng nước nổi lên thật tuyệt vời. Tôi chỉ kịp bấm một tấm là tất cả ra ngoài tầm máy. Một tác phẩm nhờ may mắn, bình thường không biết đâu tìm. Nhẩn nha vừa ngắm cảnh vừa chụp hình, đến chiều tối, chúng tôi vào thị xã Châu Đốc.


242h3.jpg


Đường đi Châu Đốc


Thành phố Châu Đốc không lớn, không có công trình xây cất gì mới mẻ. Chợ Châu Đốc làm từ thời Pháp còn lại nét hay hay. Phương tiện di chuyển phổ thông ở Châu Đốc là xe đạp, xe lôi. Một chiếc xe gắn máy kéo một bình thùng phía sau chở năm sáu người, chở thêm hàng hóa, rất dễ bị lật. Xe lôi đạp thì phần dành khách ngồi tương tự như thùng xe kéo thời trước, chỉ chở hai người, trông lịch sự và an toàn hơn.


242h4.jpg


Xe lôi


Mặt trời chưa lên, tôi đã rời quán trọ. Vòng xe ra chỗ công viên, trung tâm thành phố, chợt gặp một hoạt cảnh rất lạ, khiến tôi vội dừng lại: Những người đàn bà gánh những bó ống tre dài, từ các nẻo, đến tụ họp phía bên kia đường. Không hiểu họ bán gì, tôi hỏi một người đang tập thể dục nơi công viên:

- Mấy người kia bán gì vậy hả bác?

- Họ bán nước thốt nốt.

- Nước thốt nốt là...

- Là nước lấy từ cây thốt nốt.

Thật sự tôi chẳng hiểu gì, vì đã thấy cây thốt nốt bao giờ đâu, tôi hỏi thêm:

- Vậy họ họp chợ bán ở lề đường?

- Không, chút xíu mặt trời lên, mỗi người đi mỗi ngả.

Nghe vậy tôi vội lôi máy ảnh ra, không kịp cảm ơn bà khách. Tôi leo lên trụ rào công viên và đưa máy đóng khung một đám gánh thốt nốt. Tôi thầm nghĩ, một hình ảnh đặc biệt của đời sống Miền Nam, mà sao lâu nay không ai chụp. Nhưng rồi chợt hiểu, hễ có mặt trời thì họ đã tản ra như sương gặp nắng thì ai còn thấy gì. Trong điều kiện ánh sáng yếu như vậy, tôi phải cố gắng lắm mới bấm được một tấm.

Sáng sớm sinh hoạt thành phố Châu Đốc không có gì đặc biệt, không nghe tiếng thức dậy của quán hàng. Nhà nhà kín cửa, đường vắng hoe, cảnh thật yên tĩnh.


Trần Công Nhung

05-1992

(1) Bán Trâu Rừng trang 111 BVNCCK

*******************************************
source
Vien Dong Daily

Thứ Năm, 3 tháng 12, 2009

Chùa Bà Thiên Hậu


Cập nhật lúc 12:15:51 AM - 24/04/2009

206-h2.jpg

(Chùa Thiên Hậu)
Bài và ảnh: Trần Công Nhung

Đã là dân nhiếp ảnh không ai không biết Chùa Bà, một trong những ngôi chùa lớn của người Hoa ở Chợ Lớn. Ngôi chùa tọa lạc tại 710 đường Nguyễn Trãi, quận 1 Sài Gòn.


Thật tình tôi cũng không rõ lắm về gốc tích ngôi chùa này. Có người gọi Chùa Bà Thiên Hậu. Chùa kiến trúc và thiết trí thờ phượng theo lối người Hoa. Chùa có chuông đồng đúc từ năm 1830. Đặc điểm của ngôi chùa ngoài công trình kiến trúc đồ sộ còn hình ảnh những giây nhang vòng xoắn trôn ốc, treo đầy khoảng sân phía trước Chánh Điện. Nắng lên cao, soi bóng những vòng nhang xuống nền gạch, tạo những hoa văn lạ mắt. Ngày vía lễ, khói nhang tỏa đặc, làm cho hình ảnh các giây nhang ẩn hiện mờ tỏ đượm vẻ linh thiêng.

206-h3.jpg

(Nhang vòng trong chùa)

Chùa thờ bà Thiên Hậu là chính. Bà được người Quảng Đông gọi là “A Phò” (Đức Bà). Người Phúc Kiến và Hải Nam thích gọi bà là "Đạo Mẫu". Bà có tên thật là Mi Châu, sinh ngày 23 tháng 3 (âm lịch) năm Giáp Thân (1044) ở Phước Kiến (Trung Quốc). Theo truyền thuyết thì một hôm cha Bà là Lâm Tích Khánh cùng hai anh trai đi thuyền chở muối đến Giang Tây, giữa đường gặp bão lớn. Lúc đó Bà đang ngồi dệt vải cạnh mẹ, xuất thần biến đi cứu cha và hai anh. Trong lúc Bà đang dùng răng cắn áo cha, hai tay nắm hai anh kéo vào bờ thì nghe tiếng mẹ gọi, ép Bà trả lời, Bà vừa mở miệng thì sóng cuốn cha đi mất dạng, chỉ cứu được hai anh. Từ đó những ai đi biển gặp nạn, đều khấn vái Bà. Năm Canh Dần (1110) nhà Tống sắc phong cho Bà là "Thiên Hậu Thánh Mẫu". Những nơi có đông người Hoa cư ngụ thường có chùa Bà, như chùa Bà trên đường Chi Lăng gần bến đò Cồn (Huế), Chùa Bà Bình Dương… đến ngày vía lễ không những người Tàu mà cả người Việt cũng đi lễ rất đông.

Sáùch Đại Nam Nhất Thống Chí ghi: Cách huyện Bình Dương 12 dặm, ở phía tả và phía hữu đường quan lộ. Nơi chợ có đường thông ra tứ phía đi liên lạc như hình chữ "điền", nhà cửa phố xá liên tiếp thềm mái cùng nhau, người Hán, người Thổ ở chung lộn dài độ 3 dặm, đủ cả hàng hóa trăm thức, ở bên sông Nam và Bắc không thiếu món gì, đầu phía Bắc đường lớn có đền Quan Công, quán Tam Hội, xây cất đối nhau phía tả và phía hữu. Phía Tây đường lớn có chùa Thiên Hậu...

Kiến trúc Chùa Bà hoàn toàn theo đặc trưng của người Hoa, đây là tổ hợp 4 ngôi nhà liên kết tạo thành mặt bằng giống hình chữ "khẩu" hoặc chữ "quốc". Ba dãy nhà ở giữa tạo thành tiền điện, trung điện và hậu điện. Giữa các dãy nhà này có một khoảng trống gọi là thiên tỉnh (giếng trời), giúp không gian chùa thoáng đãng, đủ ánh sáng cho hậu cung và có chỗ thoát khói nhang. Trang trí ở các điện là hình hoa lá, chim thú và hoành phi, câu đối, thường là màu đỏ, vàng, tạo sự ấm áp, tin tưởng. Chùa còn có các bức tranh đắp nổi hình thú thuộc "tứ linh". Chùa có gắn các phù điêu bằng gốm dày đặc từ trên nóc chùa, mái, hiên chùa cho đến các bàn thờ, vách tường... do 2 lò gốm Bửu Nguyên và Đồng Hòa sản xuất vào năm 1908. Kiến trúc độc đáo này được nhà cổ ngoạn Vương Hồng Sển khen ngợi như sau:

...Chùa ngày nay như ta thấy, toàn xây bằng vật liệu bên Tàu đem qua, từ viên gạch, tấm ngói, đến những đồ gốm gắn trên mái nóc đều do thuyền buồm chở sang đây, đến cách thức phong tô cũng giữ y thể thức Tàu, gạch xây liền mí không tô hồ, đếm rõ từng tấm một, lằn hồ thẳng đường thẳng lối khít rịt và ngay bon như vẽ, thiệt là rất khéo và tưởng chừng thợ kim thời khó làm sắc sảo hơn được nữa. Truy ra chùa nầy trùng tu năm 1860 (Hàm Phong năm thứ 10). Ngày nay đứng sân chùa ngắm lên các cảnh chưng trên nóc bằng đồ gốm nung bên Tàu là biết được những phong tục Trung Hoa cổ thời, thưở vua chúa còn trị vì: Đả võ đài, thi đậu vinh quy, công chúa tuyển phò mã, v.v., những vật này đáng được liệt kê vào sổ cổ tích vậy.

Trong chánh điện còn 2 đại đồng chung niên hiệu Càn Long năm thứ 60 (1796) và Đạo Quang năm thứ 10 (1830). Trung điện có bộ lư phát lam lớn niên hiệu Quang Tự thứ 12 (1886). Trong tủ kính lớn ở chánh điện là tượng Bát Tiên và tướng lịnh của D'Ariès (1860) cấm các binh sĩ Pháp và Y Pha Nho phá phách. Hai bên bộ lư là kiệu sơn son thiếp vàng, bằng gỗ tốt, dành rước Bà vào ngày vía với chiếc thuyền rồng chạm hình nhân, rước theo cùng với kiệu Bà. Ngoài ra, chùa còn khoảng 400 đồ cổ, gồm nhiều tượng gỗ, tượng đá, bia đá, chuông nhỏ, lư đồng, lư đa, hoành phi câu đối, tranh đắp nổi… Tất cả những cổ vật này đều được chế tác rất công phu, tỉ mỉ với những đường nét tinh tế.

Đối với giới nhiếp ảnh thì Chùa Bà hấp dẫn nhất là trong ngày lễ hội, nhang vòng treo dày đặc trong chánh điện, khói hương mịt mù ánh sáng trời xuyên qua vẽ từ vùng hào quang lung linh giữa đám người lễ bái. Đã có nhiều tác phẩm trúng giải quốc tế nhờ chủ đề Chùa Bà.

206-h1.jpg

(Lễ chùa – ảnh Lê Nguyên Anh)

Mấy năm trước tôi có ghé qua Chùa Bà Thiên Hựu, và trong khi đi tìm “đề tài” tôi đã đã gặp một người “thầy thuốc”. Chuyện người “thầy thuốc” tôi có viết trong cuốn QHQOK 2. Do chưa đủ thời gian kiểm chứng tôi đã ngộ nhận lúc đầu và đã làm cho không ít độc giả tin theo (1). Xin trích một đoạn:

“Chiều hôm sau Khánh (người thầy thuốc) gọi hỏi thăm, không hiểu trao đổi với anh như thế nào mà anh biết tôi có bệnh tiểu đường. Anh hỏi cặn kẽ rồi kết luận:

- Bệnh của chú như vậy là nhẹ, mới chớm, nhưng nên chữa dứt từ đầu. Sáng mai chú đến cháu bắt mạch làm thuốc cho chú….

Đúng hẹn, tôi mang ảnh đến cho Khánh, anh ở tại 55 Lương Nhữ Học P10, Q5-Sài Gòn. Đến nơi tôi thấy trước nhà có treo bảng hiệu “An Ngươn Đường”... Khánh bảo tôi ngồi nghỉ một lúc rồi xem mạch. Anh nói:

- Tiểu đường là do Tụy Tạng yếu, không đủ lượng insulin để tiêu thụ đường. Phải chữa ngay tụy tạng.

Lối chữa của Đông Y là chận ngay từ gốc. Tây Y thì phát đâu đánh đó. Gãy tay gãy chân, mổ xẻ, là phần việc của Tây Y. Ngày nay không ai chối cãi "quyền thay tạo hóa" của Y Khoa. Những trường hợp thay tim, thay thận...

Tôi hỏi dò để biết thêm:

- Ngoài cháu còn ai làm thuốc nữa không?

- Ông nội cháu, truyền lại cho ba cháu, nhưng ba cháu không thích lắm. Cháu thì thấy hay, phụ việc cho ông nội và ba cháu, học nghề luôn từ nhỏ.

- Làm sao mà cháu phải ngồi xe lăn?

- Cách nay tám năm, cháu chạy Honda đi giao thuốc và bị tai nạn...

- Lúc nãy cháu bảo dùng thuốc rồi thì ăn uống bình thường, đường không trở lại?

- Dạ đúng vậy. Có những người bệnh nặng, bị lở lói mà cháu chữa vẫn lành.

Tôi đồng ý để Khánh làm thuốc. Thuốc Bắc, tán thành bột, uống 2 tháng. Trước khi ra về tôi nói :

- Cảm ơn cháu, nhưng có điều này chú nói trước: Nếu quả thật thuốc tốt như lời cháu, chú sẽ viết một bài báo cho mọi người biết để bà con tùy nghi. Ngược lại, chú cũng viết để mọi người biết mà tránh.

Qua mấy năm sau, tôi nghiệm ra công hiệu của thuốc không như lời “thầy” đã cam kết (1). Có người bảo “đấy là do thuốc không hạp với ông”, cũng có thể như thế, nhiều điều tốt cho người này mà xấu cho người kia là chuyện thường. Nếu độc giả nào dùng thuốc mà lành bệnh, người viết xin chúc mừng, ngược lại xin thông cảm thứ lỗi cho. Vấn đề chính là mình đi vãn cảnh chứ không đi chữa bệnh. Đây chẳng qua là chuyện không may, nhưng không có gì (side effect) xẩy ra, vậy cũng là điều đáng quí.

Trần Công Nhung
7 - 2008

(1) Sau khi uống hết thuốc tôi thử máu theo chu kỳ khám, cứ 6 tháng 1 lần, thời gian đầu chừng hơn năm, không thấy đường lên, nhưng rồi thấy đường trở lại 130, tôi đến bác sĩ chuyên tiểu đường, BS bảo bệnh chưa có gì, có người còn lên 4-5 trăm, khi được giảng về cách đo đường trong máu lúc đói và lúc no, tôi mới hiểu lâu nay kết quả thuốc “thầy Khánh” là không thực. Đã thế làm cho bệnh tăng thêm vì ỷ y không uống thuốc. Những người bị nhẹ như tôi thì lúc đói (sau 20 giờ không ăn) bao giờ đường cũng thấp, trái lại ăn xong sau 2 giờ đo máu sẽ thấy đường cao 170-200. Tôi dùng máy cá nhân đo thấy đúng. Báo cho anh Khánh biết, anh hứa sẽ điều lại thuốc và gửi qua cho tôi. Thuốc lần hai (miễn phí) tôi theo dõi vẫn không ăn thua, tôi nghi trong thuốc có chất gì đó chỉ tác dụng tạm thời mà thôi. Trở lại tây y, tôi phải dùng thuốc hàng ngày ( liều nhẹ mỗi bữa ½ viên Stalic trước khi ăn), kèm theo chế độ ăn uống, cốt giữ quân bình lượng đường. Lúc đói 105, lúc no sau khi ăn 2 tiếng, 140 hay trên dưới chút đỉnh là tốt.

Một bạn bác sĩ ở Nha Trang cho biết, trong y dược có một chất (tôi không nhớ tên), tán trộn vào cao đơn hoàn tán là trị bá bệnh, nhưng có thể hại sức khỏe do liều lượng không đúng. Tôi rất lấy làm tiếc đã vô tình gây ngộ nhận cho một số độc giả. Thành thật cáo lỗi và mong được thông cảm

***********************************************

source

Vien Dong Daily

Thứ Tư, 2 tháng 12, 2009

Biển nghêu Gò Công


Biển nghêu Gò Công (kỳ 1)
Cập nhật lúc 12:08:43 PM - 17/01/2009

194-h1.jpgi và ảnh: Trần Công Nhung

Một đất nước suốt mấy nghìn năm sống nhờ nương rẫy ruộng đồng, sống nhờ hai bàn tay bươi móc kiếm ăn từng ngày, thì cho dẫu thế giới văn minh tới đâu mình vẫn không sao rời hẳn được tay hái tay liềm.

[Thành phố Gò Công Đông]


Ngày ngày hai bàn tay vẫn phải quơ quào kiếm sống. Cuộc sống càng thấp càng cần đến hai bàn tay, bàn tay trọn vẹn 5 ngón. Ngược lại trong xã hội văn minh, khoa học đã đi vào mọi ngành sinh hoạt, thì con người chỉ dùng tay bấm nút, điều khiển máy móc làm thay cho mình. (...) trong thời kỳ “quá độ lên (...)”, con người còn vất vả nhiều. Có những việc làm nếu không thấy không thể tin. Hai bàn tay đi moi giun bốc dế (1) đi bươi rác kiếm đồ thừa chất thải đổi lấy miếng ăn... Hai bàn tay phải làm việc từ tuổi còn thơ, thật kham khổ mà đầy can đảm. Trong một xã hội cơ cực như thế, con người đã không ngần ngại sử dụng hai bàn tay mình vào bất cứ việc gì, miễn có tiền.

Trong lần đi với anh em nhiếp ảnh nhóm Đồng Cảm (Q.Bình Thạnh) về Gò Công Đông, tôi đã có dịp chứng kiến sự vất vả của hai bàn tay, vất vả nhưng trong lành và đầy lương thiện: Hai bàn tay cào nghêu.

Vùng biển Gò Công Đông, những tháng 3,4,5,6, lúc thủy triều xuống, biển cạn như ruộng khô. Biển phủ một lớp bùn dày chừng 20cm, dựa vào đặc tính này người ta nuôi nghêu. Trên rừng khai hoang phá rẫy, tự tạo cuộc sống của mình (2), nhưng ở biển thì chẳng tốn một công nên phải trả tiền thuê mặt bằng cho chính quyền địa phương. Mỗi mẫu tiền thuê 700 nghìn đồng. Người dân bình thường không ai có tiền đem bỏ biển một cách bấp bênh như thế vì ngoài tiền thuê biển, tiền vốn mua giống cũng không phải ít. Chỉ những nhà tiền nhiều mới đầu tư nuôi nghêu. Việt Nam ngày nay có nhiều nghịch lý, người làm còng lưng không đủ ăn, bệnh không tiền thuốc, người vốn chỉ có cái mồm, thậm chí học hành chưa đến đâu, bằng cấp mua qua bán lại, thế nhưng tiền của dư dả tràn ra nước ngoài.

Một vài bạn ảnh cho biết, cảnh cào nghêu rất hay mà chụp không ra (nghệ thuật), họ muốn đưa tôi đi thử một chuyến. Chưa biết thế nào, song nghe mô tả hàng trăm con người ngồi cào nghêu trên biển cũng lạ lắm. Và tôi giục anh em nên đi sớm, chỉ còn vài hôm tôi phải quay về Cali. Cái khó là nắm cho chính xác lịch thủy triều lên xuống. Thăm dò mãi mới có tin: “Nước xuống lúc 3 giờ chiều”. Một cuộc họp mặt tại cà phê Phúc Âm đường Trần Bình Trọng (Bình Thạnh, Sài Gòn). Quán không hẳn cà phê vườn nhưng cũng cây cối mát mẻ, buổi sáng có hàng cơm tấm phía trước nên anh em văn nghệ quanh vùng thường tụ họp. Thông lệ đặc biệt của quán là bao giờ cũng có dĩa trái cây đãi khách trước khi ra về.

Tin con nước do anh Điển thông báo, anh là giáo viên mãn mùa song người còn hăng hoạt động nên đi tìm thú vui qua nghệ thuật nhiếp ảnh. Hôm họp mặt anh lại vắng và cho biết không đi được lúc này do công việc nhà. Thanh là người thay thế anh Điển sắp xếp chương trình và lo chuyện ăn uống dọc đường cho anh em. Đúc kết, sáng đi chiều về, sáng chụp ảnh dọc đường đến 3 giờ xuống biển, 5 giờ về lại Sài Gòn. Một ngày rất gọn.

Sáng hôm sau 7 giờ Thanh đã qua khách sạn Vỹ Hà 2 đường Cù Lao (Phú Nhuận) đón tôi, anh em tập họp điểm tâm tại Phúc Âm trước khi lên đường. Giờ chót có mấy bạn kẹt không đi được, chúng tôi 5 người 3 xe, anh em địa phương rành đường, chọn ngõ tắt ra khỏi thành phố rất nhanh. Qua đến xa lộ Nam, tức khu chung cư Phú Mỹ Hưng thì đường rộng thênh thang và mới hoàn toàn, đây là đoạn đường đẹp nhất của Sài Gòn sau 75... Khu phố mới này nghe đâu do Đại Hàn, Đài Loan đầu tư, nhà cửa xây theo tiêu chuẩn tiện nghi như ở Mỹ, mỗi nhà đều có garage, đường vuông theo lối bàn cờ Đông Tây Nam Bắc. Sài Gòn về miền Tây nếu đi theo ngã Phú Lâm thì sẽ khổ vì nạn xe ùn tắc. Trên xa lộ Nam có mấy chiếc cầu một nhịp cong sơn đỏ, màu đỏ nổi bật giữa nền cây xanh mới đẹp làm sao. Hết xa lộ Nam theo QL14 rẽ trái đến ngã ba Gò Đen đi Cần Đước. Năm ngoái tôi đi tìm Nhà Trăm Cột (3) cũng theo lối này. Hai bên đường bà con đang cấy lúa, cũng cùng công việc mà trong Nam có vẻ rôm rả tấp nập hơn ngoài Bắc. Ngoài Bắc từng nhóm năm ba người, trong Nam hàng hàng lớp lớp, ruộng đồng bao la. Cùng vất vả tay chân nhưng hai nơi khác nhau nhiều. Không hiểu do lẽ gì mà nhìn người lao động miền Bắc tôi vẫn có cảm tưởng họ khổ hơn. Và trong thực tế, người Bắc bỏ quê hương vào Nam làm ăn chứ ít ai bỏ Nam ra Bắc mặc dù miền Nam bao nhiêu năm sống dưới chế độ cũ, “thiếu văn hóa, thiếu cơm ăn, thiếu cả chén bát”(4).

194-h2.jpg[Khu du lịch Tân Thành]

Anh em tha hồ chụp cảnh đồng ruộng đầu mùa. Lao động thời nay cũng màu sắc lắm, không thấy tận mắt cứ tưởng giả tạo. Trong nhiều chuyến đi tôi đã gặp những chiếc áo đỏ thắm trên con thuyền câu, trên cánh đồng muối, trên nương khoai, trên đồi chè. Chính sự cực nhọc của người dân lao động mang đến cho nghệ thuật nhiều yếu tố thú vị bất ngờ, trong đó có màu sắc. Anh em rỉ rả kiếm hình dọc đường về đến bến phà Mỹ Lợi trời cũng vừa trưa. Phà qua sông Cầu Nổi, hỏi nguồn gốc tên sông, không ai biết. Sông khá rộng nếu làm được cầu nổi thì hóa ra trước đây lại khoa học hơn bây giờ!

Có người đề nghị qua phà ghé quán cơm, nhưng trời đang mưa lâm râm mà quán thì sơ sài nên cùng nhau chạy ráng về Gò Công, chỉ còn 12 cây số thôi. Việc gì cũng vậy cố thêm một tí, khi đạt được, sự sảng khoái sẽ tăng hơn nhiều. Vào thị xã trời bừng nắng, bạn Lê Nguyên Anh dẫn anh em vào một quán cơm trên đại lộ Nguyễn Trung Trực, quán cơm bình dân mà ngon và sạch sẽ mát mắt. Cô đầu bếp trẻ đẹp lại vui tính hỏi nhiều chuyện và cứ đòi chụp ảnh làm mấy anh trai trẻ chỉ thích đứng ăn bên quầy chứ không muốn vào bàn.

Đại lộ Nguyễn Trung trực chỉ một đoạn và cuối đường có tượng cao lớn màu đen. Thành phố vắng hoe, xe máy không nhiều, xe hơi càng ít, đời sống có vẻ trật tự ngăn nắp. Nhìn chung cảnh quan như trước 75, nếu không có những câu khẩu hiệu và cờ xí căng treo ngang đường.

Anh em ra đến bờ biển vừa đúng 1 giờ trưa, ai nấy tự động đi tìm đề tài. Một cầu tàu (Pier) ra tít ngoài biển có vẻ hấp dẫn, như kiểu cầu tàu bãi biển Bạc Liêu, song ở Bạc Liêu có quán để khách ngồi giải lao ngắm trời mây sóng nước, đây chỉ là chiếc cầu dài ngoằng khô khan trơ trụi, chẳng ai muốn ra xa hứng nắng.

Ngày nay nơi nào có bãi biển đều được biến thành khu du lịch. Biển Gò Công chưa có gì để lôi cuốn du khách ngoại trừ màu sắc của cổng chào dựng tạm: “Khu Du Lịch Biển Tân Thành”. Hai bên cổng vài ba người che dù bán cua sò ốc hến. Bãi biển có kè đá sạch sẽ mà nước đục ngầu, quanh năm phù sa từ Mekong đổ về nên không phải bãi tắm như bãi biển các tỉnh miền Trung, mà bãi bùn. Nhờ vậy Gò Công có hàng nghìn sân nghêu, một nguồn lợi thiên nhiên cho địa phương.

Thấy đã 2 giờ mà nước vẫn mênh mông, hỏi ra, nước rút lúc 7 giờ sáng, bây giờ nước đang lên. Thông tin không chính xác vậy là mất thêm một ngày. “Vỡ kế hoạch”, chúng tôi đi thăm dò kỹ xem sáng mai sân nghêu nào cào trước và chính xác mấy giờ bắt đầu, công nhân tập họp ở đâu. Tôi hình dung cảnh người đi làm ùn ùn xuống biển lỉnh kỉnh với đồ nghề sẽ là đề tài lý thú. Lại có tin, sân trong quán Cây Bàng cào trước.

Chúng tôi đi tìm quán Cây bàng, theo con đường dọc bờ biển chạy về hướng Đèn Đỏ (5) vài trăm mét có cụm rừng phi lao, có mấy túp lều giải khát, lều trống chung quanh, vài ba chiếc bàn nhựa, mấy chiếc ghế, có cả võng treo dọc treo ngang. Khách có thể nằm hoặc ngồi, nếu muốn cứ di chuyển bàn ra ngoài xa, tha hồ tâm sự. Tôi xí phần chiếc võng “thư giãn” chốc lát. Không có cà phê, anh em mở mấy chai bia để có cớ thăm dò chuyện “Nghêu sò ốc hến”. Bà quán cho biết sáng mai không cào ở đây mà phía ngoài một chút, chỗ con đường nhỏ xuống biển.

Chuyện đơn giản hàng ngày ở địa phương mà đối với người phương xa cứ loanh quanh mù mờ. Cuối cùng cũng biết được chính xác, nhờ gặp anh Luyến, người giữ sân nghêu.

Anh cho biết rõ giờ thủy triều lên xuống và những chuyện chung quanh nghề nuôi nghêu. Công việc của anh là lên chòi canh khi nước cạn và về nghỉ khi nước cao, nước cạn phải coi chừng người cào trộm. Hỏi anh lội ra biển chụp ảnh có gặp gì bất trắc, chẳng hạn có “ổ voi ổ trâu” như trên bộ, lỡ sụp hầm là tiêu đời máy móc. Anh bảo chỉ một lớp bùn non chừng 10 đến 20 phân, dưới là nền cát dẽ bằng phẳng. Chỉ sợ lội ra xa quá, khi nước lên chạy vào không kịp, lúc ấy phải leo lên chòi rồi nhờ ghe ra rước.

Chúng tôi tiếp tục săn ảnh, vào chừng cây số thì bên tay phải nguyên cánh đồng vàng nhiều đụn khói đặc ùn lên cuồn cuộn, rất hấp dẫn, mấy năm trước lên Điện Biên Phủ, tôi cũng đã gặp cảnh tương tự, có lẽ còn hay hơn nhờ hậu cảnh núi non xanh thẩm. Anh em tìm lối về hướng cánh đồng đang bốc cháy. Phải gửi xe, đi bộ men theo bờ ruộng rồi qua một cầu khỉ. Mương nước không rộng nhưng cầu quá bấp bênh, mấy cây gỗ tròn bằng bắp chân gác lên nhau, tay vịn đã muốn xiêu, phải qua từng người. Một nhu cầu cần thiết hàng ngày, và chẳng tốn kém bao nhiêu, vậy mà xóm làng chẳng ai để ý. Nhưng mọi việc khó dễ do thói quen, mình chỉ mang túi máy nhỏ gọn, mà tưởng không qua được, trong khi người dân với gánh lúa nặng trĩu trên vai, lại qua dễ dàng.

Ngày nay ruộng đồng canh tác quanh năm, vừa gặt xong là đốt rơm rạ, cày bừa (máy) làm đất để sạ hay cấy ngay. Đôi khi đám ruộng cấy liền bên đám ruộng gặt, một hình ảnh không hề có thời xưa. Ngày trước, lúa gặt về chất đống ngoài sân, thuê người đạp, hạt phơi mấy nắng mới đổ bồ hay lẫm. Bây giờ lúa phóng (6) tại ruộng, vào bao tải chở về nhà có khi bán luôn tại chỗ.

Chừng tiếng đồng hồ tôi trở lại đường lộ, anh em còn mãi tít bên kia cánh đồng. Mỗi người khi bấm máy đã sẵn dự tính trong đầu, chụp cái gì, để làm gì, do vậy công việc cũng nhanh. Một vài người thì chụp ảnh như ngư dân đi “dã cào”, biết là vùng có cá thì cứ thả lưới cào tất, về nhà tính sau.

Nắng đã dịu song trời vắng gió, nóng hầm hầm. Tôi đợi hơn tiếng mới thấy anh em quay lại. Sống mãi trong thành phố nay gặp cảnh ngày mùa, ai nấy mãi mê “sáng tác”. Mọi sinh hoạt lắng dần theo bóng chiều xuống, thôn quê ngược với phố phường, phố phường về đêm mới tưng bừng náo nhiệt.

194-h3.jpg

[Ngày mùa xã Tân Thành]

Chúng tôi về Gò Công ăn tối rồi tìm khách sạn. Bà chủ quán cơm cho biết nay là ngày lễ (2-09), đi ra ngoài một chút khách sạn rẻ hơn. Khách sạn Hoa Hồng, trên đường ra biển Tân Thành rất tiện cho công việc sáng hôm sau. Khách sạn “ven đô” yên tĩnh giá phải chăng. Thực tình đi chơi đôi khi cần những mục linh tinh, nhưng là đi chơi kiểu vô sự, còn như bọn chúng tôi thì hơi khó vì phải tính toán thời gian và giữ gìn sức khỏe, nếu mục nào cũng xả láng thì hỏng hết công việc.

Tối hôm đó duyệt lại chương trình xong, ai nấy đi ngủ sớm để hôm sau dậy trước khi mặt trời mọc. Miền biển đẹp nhất là những giây phút đầu ngày, những vùng đông dân chài, cảnh ghe thuyền ra khơi trong ánh bình minh là chủ đề hấp dẫn đối với người cầm máy. Riêng tôi trong lần này, hình ảnh những đám người cào nghêu trên biển mới là đáng lưu tâm. Chờ xem ngày mai như thế nào.

Trần Công Nhung

8 – 2008

(1) Phải làm để sống đã đăng.

(2) Khi rừng hoang đã thành rẫy ruộng thì nhà nước lại đặt “vấn đề”, vì luật VN đất đai không thuộc sở hữu người dân.

(3) Nhà Trăm Cột đã đăng

(4) Bạn đồng nghiệp của tôi là CVD có người chú Tướng CVK sau 75 đã từ Hà Nội vào Nha Trang thăm anh là Cao văn Tường (Dân Biểu), mang theo một chục bát sành, mấy xâu củ tỏi biếu anh.

(5) Địa danh, trước đây có đặt hải đăng(?)

(6) Máy tách hạt lúa chảy ra máng bên hông, rơm phóng ra ngoài. Miền Nam lúa bán theo “dạ” mỗi dạ giá (8-2008) 80 nghìn, bán tại chỗ lúa tươi còn nặng được giá hơn đưa về nhà.

Thư Độc Giả

Thưa quí độc giả thân mến,

Có lẽ “Thư độc giả” đã vắng bóng gần một năm qua. Nhiều bạn đọc cho biết mỗi thứ bảy, khi cầm tờ báo Viễn Đông, là tìm đọc “Thư độc giả” trước khi vào bài chính của mục Quê Hương Qua Ống Kính. Đây là ly rượu khai vị, là mấy cung mở đầu, là nhịp cầu nối giữa người đọc và người viết để đi vào chuyện Quê Hương.

Tại sao lại ngưng?

Xin thưa, thực sự thì không một lí do nào rõ rệt cả, nghĩa là không có lí do. Đời người như một dòng sông, “Sông có khúc, người có lúc”, có con sông nào thẳng thớm êm xuôi đâu, giả dụ có, tôi tin dòng sông đó cũng chẳng lấy gì làm đẹp. Nếu bạn đọc có dịp lên Hà Giang, các bạn sẽ thấy Lô Giang đẹp như thế nào! Đoạn nào khúc nào cũng đẹp, nhờ dòng sông quanh co thác ghềnh.

Một bạn đọc ở Magic Mountain, anh Ng. K. Hiền, khi hay tôi lay hoay đi tìm chỗ ở đã ngạc nhiên: “Oh my God, ba tháng mà anh dọn hai lần nhà! Xa quá chứ không tôi cho anh tá túc”. Trong hoàn cảnh như vậy thì nhất định không “an cư” rồi. Đã vậy làm sao “lạc nghiệp”, làm sao yên tâm để nhâm nhi “khai vị” hay tâm tình chuyện đó đây. Tôi phải cố gắng giữ đều đặn sự hiện diện của mình trên QHQOK để khỏi phụ lòng người đọc, để mỗi tháng có được “chút đỉnh lì xì”.

Tuy thế thỉnh thoảng vẫn có những niềm vui nhỏ bay về, tưởng như một hơi gió nhẹ giữa trưa hè, giúp cho mình vui vui và thêm hứng khởi: Độc giả Ng.S ở San Diego, tặng bạn nguyên bộ QHQOK, không chịu với giá giảm lại còn thêm gấp đôi tiền cước, một độc giả ở Australia, đọc trên Viendongdaily.com, thích thú chia sẻ với người viết bao nhiêu điều và order nguyên bộ để tủ sách có thêm màu sắc quê hương...

“Đến hẹn lại lên”, mọi năm thời gian này sách mới đã in, thư thông báo đã gửi, năm nay bài vở hình ảnh sẵn sàng rồi nhưng còn nằm yên trong ngăn kéo. Không nói, độc giả cũng hiểu, không riêng gì sách vở mà tất cả mọi thứ đang trong đà đi xuống (down). Nhưng, chắc chắn QHQOK, vẫn còn tiếp tục đến với người đọc, sớm hay muộn mà thôi. Nhân tiện xin nhắn cùng những độc giả đã gửi trước ấn phí như thế.

Chỉ còn không mấy ngày nữa, Chuột đi Trâu đến, dù thân nào thì cũng biểu hiện một năm mới hoàn toàn. Chúng ta có quyền hy vọng nhiều điều trong năm mới.

Quê Hương Qua Ống Kính xin chúc quí Độc Giả và Thân Hữu: Một Năm Mới Kỷ Sửu An Khang - Hạnh Phúc và Thành Công.

Trân Trọng,

Trần Công Nhung

******************

Biển nghêu Gò Công (kỳ 2)

Cập nhật lúc 3:15:11 PM - 24/01/2009

195-h1.jpgBài và ảnh: Trần Công Nhung

Khách sạn Hoa Hồng thuộc vào loại khá mà cũng không mấy khách, ban đêm cả vùng yên tĩnh không khác vùng Lawndale tôi ở bên Cali. Nước Mỹ ngoại trừ dọc hai bên Freeway, khu da đen, khu Mễ... ồn ào bát nháo, còn thì rất trật tự ngăn nắp, mọi người biết tôn trọng nhau, không có gì thái quá trong cuộc sống.

[Đặc sản Tân Thành]


Không có cảnh 2 giờ sáng mà Karaoke vang dậy phố, quán hàng rầm rập bán mua, coi thường sự nghỉ ngơi của mọi người (1). Miền quê Việt Nam đêm xuống là nghỉ ngơi, suốt ngày vất vả tay chân, một giấc ngủ no rất cần cho sức khỏe.

Nhờ thói quen nên tôi không cần để alarm phone như các anh em khác. Bên này hay bên kia, 3 giờ sáng tôi dã dậy làm công việc thường lệ, ghi chép những điều thu thập trong ngày cùng những dự tính mới, mọi thứ trong Laptop, thiếu đi là người trống rỗng, thời gian trở nên nặng nề (2). Lúc thấy bầu trời hừng sáng, tôi nhắc mọi người chuẩn bị ra biển.

Tôi hình dung nếu trời có mây đỏ, cảnh biển sẽ rực rỡ, kết hợp với dãy quán bên trái và cầu tàu, một đề tài khá lạ. Biển Gò Công, biển bùn nên không người tắm, cũng là yếu tố hay cho một bình minh êm đềm.

Khách sạn cách bãi biển 7km, mười phút chạy xe, chúng tôi đã thấy chân trời ưng ửng, mặt trời đỏ đang lên. Tiếc là mây cuộn và đặc quá, nếu được mây dải trải dài thì hay hơn. Tôi vào quán giải khát còn vắng tanh, đợi mặt trời lên vừa tầm, lấy diềm quán làm khung đóng lại một vùng “Bình minh của biển”. Mặt trời, diềm quán, cầu tàu, chất liệu đơn giản quá, thay đổi góc nhìn thì cảnh vật vẫn thế, có khác chăng là sắc hồng đậm nhạt của trời mây. Tôi đi dần ra xóm chài phía Bắc, dãy nhà chòi chênh vênh bên bờ biển, yên lặng, hiền lành, tưởng như không người ở.

Suốt bãi biển Tân Thành không thấy dấu hiệu gì của đời sống dân chài. Mãi đến lúc mặt trời lên hẳn mới có một hai ngư dân vác lưới lội ra biển, biển cạn nên chẳng cần thuyền. Vài cô cậu chạy xe ra quành một vòng rồi đi, mấy nhà sàn giải khát phía trong, sơ sài trống rỗng làm cho cảnh lặng lẽ thêm...

Cả một miền biển êm đềm có phần quạnh hiu. dân địa phương quá quen chẳng ai màng, các nơi khác như Cửa Lò, Nha Trang thì cảnh tấp nập người, tắm hay tập dưỡng sinh, thấy rõ sức sống bừng lên đầu ngày.

Tại cổng khu du lịch có phần nhộn nhịp, nhưng cũng chỉ hàng quà buổi sáng, hoặc mua bán hải sản kiểu bỏ túi, vài ba chiếc xe thồ chở hàng vặt... sinh hoạt của một địa phương hiền hòa dễ dãi. Tôi loanh quanh tìm một ít hình ảnh trong khi chờ đi sân nghêu. Màu sắc nơi thôn dã khá lạ mắt, áo quần vật dụng, họ dùng cách hồn nhiên, không cần theo nguyên tắc nào cả. Trong đám màu lao động nghèo khó lại nổi lên màu áo vàng rất vương giả hay màu đỏ chót rất xa hoa. Người hay lý lẽ cho đó là phản ứng của cuộc sống bị ức chế. Cũng có thể, quanh năm vất vả, kiếm được chiếc áo “thời đại” cho dù kiểu gì màu gì cũng mặc cho sướng tấm thân, chẳng cần hợp cảnh hợp người. Ẩn ức lắm khi bung ra bằng mọi cách bất chấp dư luận chung quanh.

Anh em đã qui tụ, một người mới từ Sài Gòn xuống, anh chạy lúc 4 giờ sáng, qua những đoạn đường vắng đêm khuya chứng tỏ cũng khá đam mê. Chúng tôi đi tìm quán điểm tâm. Ngay đầu lối ra biển có quán hủ tiếu, nhanh gọn mỗi người một tô, quả dừa tươi là có thể yên tâm chiến đấu đến trưa. Quán hàng ở thôn quê thật bình dị, chỉ có bàn và ghế, muốn có tiêu, chanh, ớt, mắm, phải gọi, mà gọi đâu đã có ngay. Một người lo cho cả 5, 7 bàn, đôi khi phải gọi mấy lần mới có. Đất lề quê thói, chẳng ai than phiền chuyện hàng ngày như vậy. Điều đáng nói là hầu như người mình buôn bán chẳng có nguyên tắc nào, thêm bớt tùy thích, trước sau tùy tiện, lắm khi người đến trước mà không chen không kêu thì cứ đứng mãi. Việt Nam nổi tiếng văn minh nhưng là thứ văn minh “miệt vườn”. Người ngoài muốn học không phải dễ, nhất là trong việc làm ăn, càng lớn càng phức tạp. Thế mới có câu “Nói vậy mà không phải vậy”. Luật pháp rõ ràng thế nhưng làm theo luật có khi rước họa vào thân. Cứ xem những chuyện tòa án thì biết. (3)

Dân đi cào nghêu kéo hàng dài trên đường, người nào cũng thụng thện áo quần, mang giỏ nhựa hoặc thau chậu bên hông, họ lầm lũi đi như một thói quen lâu ngày. Đàn bà, con gái, có cả trẻ em, người ngoại quốc thấy sẽ không hiểu họ là gì, nếu không là tù nhân. Cả trăm người dồn lại kéo nhau ra biển, hình ảnh lạ lắm, tôi giục anh em nhanh chóng lên đường... Đến nơi mới thấy biển đã biến thành đồng, nước cạn chỉ còn trên mắt cá, từng đoàn người lũ lượt ra tít ngoài xa, một vùng người trải dài mênh mông. Vài khuỷnh (sân) đã bắt đầu cào, người ngồi lúp thúp, áo màu nổi bật trên biển nước phù sa, những chiếc chòi canh cao lêu khêu một hai chiếc ghe nằm cạn. Đúng là cảnh lạ ít thấy, và chưa biết chụp thế nào.

Ghé vào nhà quán ngay bến gửi xe, tôi hỏi thăm anh chủ nhà cào nghêu đến mấy giờ thì nghỉ, anh cho biết chừng vài tiếng, 11 giờ nước bắt đầu lên. Một người hỏi:

- Ra sân nghêu có phải theo đường hay cứ đi băng ngang?

- Đi theo đường.

195-h2.jpg

[Biển nghêu]

Đúng là có một “lối mòn” thường đi nên không còn bùn, một rãnh nước lên nửa ống chân. Phải theo “lối mòn” nếu không sẽ giẫm chết nghêu. Ranh giới sân nghêu cũng đơn giản, cắm cọc, căng vài mảng lưới rách hoặc dây nhợ tượng trưng. Người mình có câu: “Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau”, đúng thế thật. Tôi thong thả tiếp sau mọi người, tuy bùn cạn nhưng có chỗ cũng trơn, không quen có thể ngã. Ngã trên khô còn lấy thân đỡ máy, ngã dưới nước thì ô hô. Lúc còn cách sân nghêu một khoảng vừa tầm, thấy có chiếc ghe bỏ không, tôi tạt vào, leo lên. Mạn ghe ngang đầu nên phải cố lắm mới lên được. Điều rất bậy là ghe sạch sẽ, chén bát đang phơi, nghĩa là ghe có người ở, vậy mà tôi bê bết bùn tùm lum. Có muốn làm sạch lại cho chủ cũng không biết cách nào. Đành chịu lỗi. Nhóm nhiếp ảnh đã đến gần đám người cào nghêu đầu tiên. Họ loay hoay chụp ra điều hăng hái lắm. Người chỉa máy hướng này, kẻ hướng kia, trông họ tách biệt hẳn với những người đang hì hụp mò nghêu chung quanh.

Không hiểu sao trời nắng tươi mà bầu trời phía Bến Tre lại xám xịt như sắp có dông. Màu xám làm cho phong ảnh trong trường hợp này hóa hay. Nhờ nền xám mà những chi tiết cả một vùng sân nghêu nổi hẳn lên. Nếu trời có mây lỗ chỗ thì hỏng. Chụp phong cảnh, trời cần mây, nhưng đôi khi mây lại thừa. Tôi quan sát tính toán rồi bắt đầu “khai hỏa”. Ống kính với tiêu cự 70-300mm tha hồ lấy ảnh từ gần đến xa, đứng trên cao nên có tầm nhìn rộng, ghi được nhiều góc ảnh đẹp.

195-h3.jpg

[“Bàn tay ta...”]

Hàng trăm con người đội nón lum khum, nối tiếp nhau khắp một vùng nước bạc bao la, gần thấy rõ nhân dáng, xa chỉ là những hạt đậu đỏ đậu đen. Có chỗ họ ngồi theo hàng, có nơi không. Giữa đám đông li nhi lít nhít, sừng sững một chòi canh như ông khổng lồ đứng gác, một chiếc ghe mắc cạn như con khủng long nằm chờ... Hai chi tiết tưởng dư thừa lại là yếu tố tương phản cần thiết để nổi bật sự nhỏ nhoi lam lũ của con người. Chuyện đời thường mà lại rất mới đối với người chơi ảnh, nó khơi dậy cảm quan, nó bắt người cầm máy xoáy sâu từng góc cạnh của đề tài. Cảnh trước mặt có vẻ tĩnh mà lại động không ngừng. . Tôi rà máy qua lại, từ gần đến xa, chụp tất cả những gì trong tầm nhìn. Bấm máy thật đã tay, tôi không ngờ lại có dịp biết một vùng quê lạ lẫm như vầy. Tôi ngưng giây lát để nhận ra điều bất ngờ hôm nay, nếu cứ đường trường rong ruổi thì làm sao gặp được cảnh đặc biệt này. “Nước ta” không chỉ nổi tiếng “anh hùng”, không chỉ tự hào về những “chiến công thần thánh”, mà còn tự hào về nhiều thứ mà các nước khác không thể có.

Quê hương sách vở lúc nào cũng giàu đẹp cao sang, vào hàng cùng ngõ cụt mới thấy rõ thân phận dân nghèo. Với dân nghèo, hai bàn tay là phương tiện duy nhất để kiếm cơm. Kiếm cơm từng bữa thật sự chứ không như hai bàn tay của nhà thơ(...): “Bàn tay ta làm nên (...)”. Bàn tay vàng của nhà thơ hiếm lắm chỉ có trên “thiên đình”, hạ giới đốt đuốc tìm cũng chẳng ra...

(còn tiếp)

Trần Công Nhung

9 - 2008

(1) Trước đây tôi thường ở KS Hà Nội Sao, 2 nhà Karaoke đối diện rầm rầm suốt đêm, đồn công an chỉ cách 50m không hề có tiếng nói.

(2) Đêm nghe tiếng Cuốc in QHQOK tập 7


Biển nghêu Gò Công (kỳ 3)

Cập nhật lúc 7:47:58 PM - 31/01/2009

196-h1.jpgBài và ảnh: Trần Công Nhung

Tôi để lại mấy chục nghìn đồng vào mâm chén bát, coi như tiền nhờ lau chùi bùn bẩn trên ghe và như một lời xin lỗi, rồi đi dần đến từng sân nghêu để chụp cận cảnh. Công việc cào nghêu xem có vẻ nhàn nhã, người ngồi chồm hổm, nước ngập mông, liềm (1) tay phải cào bùn, tay trái mò hốt nghêu cho vào giỏ, họ lần từng tấc, cho đến khi đầy giỏ mới mang đến chỗ cân, hoặc có người đi gom.

[Chuẩn bị ra biển]


Tôi đã từng chụp ảnh đám đông dân chài nơi bến cá, hay ở bãi chợ miền quê, cũng chi chít người nhưng hình ảnh và cảm xúc khác hẳn. Kia chỉ là sinh hoạt bình thường của đời lao động, còn hình ảnh đám người cào nghêu lại gợi cho tôi sự nhẫn nại chịu đựng kiên trì. Trên nắng dưới nước, họ làm việc trong thầm lặng, di chuyển chầm chậm như sên bò, cào từng bụm, bắt từng nắm, cứ thế một buổi mấy cân nghêu, tiền công đủ nuôi sống gia đình. Ngày này qua ngày khác, người với nghêu nuôi nhau, không cần biết biến động của thế giới bên ngoài.

Hầu hết nhân công là phụ nữ, quả thực nơi bùn lầy con người sống cách đơn giản và chấp nhận mức sống ngang phận mình, không ai đòi hỏi gì hơn. Ở xa đến mới thấy sự cách biệt, mới thấy sự thiệt thòi của người dân xứ mình. Và điều tất nhiên trong cuộc sống như vậy khó mà tìm thấy những đóa hoa kiểu “Trong bùn gì đẹp bằng sen”. Chuyện hoa sen không thể có nơi con người đồng quê Việt Nam. Ngày nay, hoa đồng quê, bông nào coi được đã sớm chấp cánh bay xa, không bay cũng có môi giới đón về thành phố để vào nhà hàng, khách sạn, cà phê giải khát...hay ban đêm ra đứng các ngã tư đường để thản nhiên trả lời những câu hỏi của khách làng chơi : “Đi nhanh hay đi qua đêm, nhanh trăm rưởi, đêm 500”. Mặc cả mua bán bình thường như chuyện ở chợ. Mấy ai còn nhớ câu “Chữ trinh đáng giá nghìn vàng, Không cầm cho vững lại dày cho tan”. Người phụ nữ Việt ngày nay được “giải phóng” nên phạm vi hoạt động của họ đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Báo chí trong nước đưa tin, hàng trăm cô gái son trẻ trình diễn điệu bộ dáng dấp cho những đàn ông Hàn Quốc chọn vợ, thậm chí còn trần truồng phơi nguyên thân hình để khách xem tì vết trên từng vùng da thịt. Nếu được “trúng tuyển” sẽ có cơ bay đi Đài Loan, Đại Hàn, Singapore... Chưa có thời nào người phụ nữ Việt Nam đa năng đa dụng như bây giờ. Họ cam phận và hy sinh cho gia đình cho chồng con. Có những người cho vợ đi làm “Ô Xin” (2) để gửi tiền về sửa nhà cửa hay chạy thuốc khi con đau. Ai bảo đảm “Ô Xin” không mở rộng ra nhiều “ô” khác, lúc bấy giờ có biết cũng đành “Nhắm mắt đưa chân”.

Khoảng 9 giờ nắng khá gắt, đã ghi đủ mọi góc cạnh của đề tài, tôi quay vào, anh em tiếp tục lội. Những sân nghêu ngoài xa cũng không có gì khác, công ra vào không phải ít, chưa kể lúc nước lên nhanh, phải chạy. Chạy trên bộ vài ba cây số đã thở dốc, thử tưởng tượng chạy dưới bùn được mấy hơi. Trở vào, tôi gặp một nhóm du khách trẻ, có vẻ “Việt kiều”, ai nấy tươi vui như đang tham gia trò chơi. Người dẫn đầu cho biết bà con ở Mỹ về muốn ra xem sân nghêu.

Lác đác vài nhóm người đã ra về. Bây giờ thì ai cũng bê bết bùn, áo quần dính sát vào người, họ xuống vũng nước đầu bờ để rửa ráy. Bây giờ mới nghe tiếng cười nói rộn rã, niềm vui chân chất quê mùa, không ai nghĩ họ sống đời lam lũ nhọc nhằn. Tôi vào quán gửi xe ban sáng, chị chủ quán đang loay hoay mua nghêu của những người đi làm về, một người đàn ông trong nhà bước ra vui vẻ mời tôi ngồi nghỉ. Vừa nói anh vừa lấy chiếc võng mắc lên cột:

- Chú nằm nghỉ cho khỏe. Chụp được nhiều không chú?

- Cũng nhiều, lần đầu tôi được biết Gò Công có nghề đặc biệt này. Quán anh chỉ giữ xe chứ không bán gì sao?

- Dạ không, tụi em giữ xe miễn phí cho bà con đi cào nghêu, lúc về có nghêu họ bán lại cho.

- Đi làm công sao có nghêu?

- Thực ra công không đủ, bà con “cải thiện” người vài kí bù vào.

Trong khi trò chuyện tôi nghe hai bên mặc cả, khoảng 7 nghìn rưởi một kí. Tính theo giá thị trường chưa bằng nửa, tính theo giá nghêu bán quán thì lời gấp mấy. Ở Sài Gòn, quán lề đường bán cho bạn nhậu, một đĩa nho nhỏ 10 nghìn đồng. Một lát, anh chủ quán bê ra một đĩa nghêu luộc to tướng mời tôi. Thật bất ngờ, tôi mời anh cùng ngồi, anh từ chối, nghêu vừa hấp xong, còn bốc hơi, con nghêu đặc biệt, mọng như một quả vải bóc. Ăn vào mới biết nghêu tươi có khác, thịt đầy, nước ngọt, cảm giác ngon rõ rệt, thịt nghêu không khô xốp, không dai như nghêu bán quán. Anh chủ nhà giải thích đó là sự khác nhau giữa nghêu ăn tại chỗ và nghêu chợ. Nghêu đưa về thành lại càng nhạt càng khô. Tìm hiểu thêm về nuôi nghêu anh cho biết:

- Sân nghêu trước đây xã cho mướn 700 (nghìn) một năm, thời gian gần đây nghêu bị chết vì nước bị ô nhiễm, nhiều người bỏ nên giá hạ xuống còn 300 (nghìn).

- Nước biển sao lại ô nhiễm?

- Sợ nhứt dầu tràn, không biết dầu ở đâu đóng bợn đen cả bờ biển. Hai là nhà máy tẩy màu vỏ cua ghẹ trong? Đèn Đỏ xả hóa chất ra biển (3), nghêu hả miệng chết trắng bãi... Dân địa phương phản ánh khiếu nại mãi mà cũng chưa dứt điểm.

- Bà con đi làm là người địa phương hay chủ sân thuê nơi khác đến?

- Nghề này hoàn toàn có tính cách địa phương, và cũng không phải thuê mướn, hầu hết bà con cứ tự động xuống cào rồi cân kí tính tiền. Mỗi kí từ 2000 đến 5000.

- Tại sao có giá sai biệt vậy?

- Sân cào lần đầu nhiều nghêu, giá công hạ. Sân cào những lần sau ít nghêu giá công cao hơn.

- Vậy không ai làm công ngày sao?

- Công thì thường 10 ngàn một giờ.

- Nghêu giống mua ở đâu và nuôi lâu mau thì thu hoạch?

- Nghêu mua của nông nghiệp, thả giống hai năm bắt đầu cào. Hàng năm cứ đến rằm tháng mười (âm lịch), mùa gió chướng biển sạch bùn, là mùa thả giống, nghỉ cào.

196-h3.jpg

[Trở về từ biển nghêu]

Vừa hỏi chuyện vừa thưởng thức món nghêu tươi, vừa quan sát những “chân dung về từ biển cả”, không phải chân dung rạm nắng mà những chân dung mặt nạ, bịt bằng đủ các loại vải màu, chỉ chừa đôi mắt. Dù chỉ thế tôi cũng thấy rõ nụ cười nơi ánh mắt khi họ biết tôi chụp ảnh. Đây là một dạng chân dung lao động của người Việt ngày nay.

Đã một giờ trôi qua mà anh em nhiếp ảnh vẫn chưa về, tôi trả tiền nghêu, anh chủ nhà nhất định từ chối. Theo giá thị trường thì võng nằm 5 nghìn, nghêu 20 nghìn, trà đá 1 nghìn... Tôi thực áy náy, phải tìm cách nào mới được. Đợi lúc người chồng qua nhà bên cạnh tôi móc tiền trả cho chị vợ, anh lại đoán biết nên la lớn “Không được lấy”. Câu nói như một mệnh lệnh, chị vợ cười dễ dãi như người nhà: “Không sao đâu chú, mấy khi chú về đây... coi như cây nhà lá vườn”. Nói cho văn vẻ thôi, mọi thứ chị cũng bỏ tiền mua chứ có ra vườn hái vào đâu. Nhưng, tôi nghĩ đây cũng là dịp hiếm để người ta bày tỏ cảm tình, dọc đường tôi đã gặp nhiều “ca” như vậy, tôi nghiệm ra một điều, bon chen vì cuộc sống nhưng cũng cần những lúc sống với tình người. Và chính những giây phút thoáng qua ấy là gia vị cho cuộc sống thêm đậm đà.

Thủy triều bắt đầu lên, mấy nhà nhiếp ảnh đang quay về, người làm cũng về gần hết. Lúc nghe tôi quảng cáo món nghêu hấp, anh em “order” ngay 5 kg, đồng thời nhờ mua mấy chai bia, một bữa tiệc mừng thắng trận diễn ra rôm rả. Mỗi người một nhận xét về sinh hoạt của nghề nuôi cào nghêu, nhiều hình ảnh lạ lùng ít ắt gặp, anh em chụp mỏi tay, có người chụp hết luôn 2GB card. Điều lý thú nhất là cuộc đua xe ngoài biển, chuyện hiếm có. Từng bao tải nghêu được đưa vào bờ bằng xe máy. Mấy anh xe thồ thấy một đám chụp hình chỉa máy chụp, họ hứng chí đua nhau nước rẽ sóng tung tóe lên theo tiếng la ó cổ vũ, cứ như một cuộc đua thật sự.

Rổ nghêu to tướng vơi dần, xem chừng chưa đã, lại thêm 2 kí. Ai cũng bảo lần đầu được ăn thứ nghêu tươi quá ngon. Anh chủ nhà cho biết nghêu mùa này không ngọt bằng mùa mưa. Sau màn nghêu đã lưng bụng, anh em có ý chạy luôn về Sài Gòn để tránh cơn mưa chiều.

Bây giờ biển đã trắng xóa dưới cơn nắng chói chang. Trên mặt biển mênh mông chỉ còn mấy chòi canh trơ trọi, một vùng yên tĩnh như chưa hề bị hàng trăm con người khuấy động. Thủy triều lên, biển được nghỉ ngơi để hôm sau nước xuống lại phơi mình cho hàng trăm bàn tay cào cấu, ngày này qua ngày khác mà không một lời than thở. Không hiểu có ai đã nói lời cảm ơn biển chưa. Riêng tôi, vô cùng biết ơn biển, biển đã cho tôi nhiều hình ảnh hiếm có, hình ảnh đẹp lành mạnh và lương thiện. Cảm ơn biển Gò Công, cảm ơn những bàn tay lao động Gò Công, cảm ơn một ngày đẹp như hôm nay.

Trần Công Nhung

9 - 2008

(1) Dụng cụ cắt lúa, cắt cỏ.

(2) Nói nôm na là đi ở đợ.

(3) Tin cho biết, các cơ sở tẩy vỏ ghẹ, cua, tôm, mỗi tháng dùng trên 20 tấn hóa chất để tẩy trắng sản phẩm, chất thải đổ ra biển. Sân nghêu Tân Thành, có tổng diện tích trên 2.000ha bãi bồi, hiện nay chỉ có hơn 1.300ha đang thả nuôi nghêu. Hiện tại mỗi hecta nuôi nghêu đầu tư tối thiểu 200 triệu đồng, nếu không có điều gì bất trắc đến khi thu hoạch sẽ đạt năng suất khoảng 30 tấn/ha, bán với giá 15 triệu đồng/tấn, thu nhập khoảng 450 triệu đồng/ha.

************************************

source

Vien Dong Daily