Thứ Tư, 13 tháng 10, 2010

Sài gòn cưới hỏi


August 27, 2010

Sài gòn cưới hỏi

NGUYỆT HẠ/Việt Tribune

Nghe các cụ kể lại, ngoài Bắc, trước năm 1954, cưới hỏi phải qua nhiều “cửa”. Nào là thách cưới, coi mắt, so tuổi, nạp lễ… Mùa nào thức ấy, đi sêu tết mòn đường chết cỏ mới được “đưa nàng về dinh” bằng lễ nghinh hôn trang trọng. (Lắm đoàn khi rước dâu, đến ngõ nhà gái còn bị các em cô dâu chăng dây tơ hồng “đòi tiền mãi lộ”). Đám nào tân thời thì chú rể mặc tây, cô dâu áo dài, ôm bó hoa, có bạn phù dâu, phù rể đi kèm. Cỗ cưới chủ yếu nấu và đãi ở nhà. Nếu là gia tộc lớn, danh giá, chức sắc, cỗ có khi mời cả làng, cả hàng tổng, hàng tỉnh về dự. Cưới thường tránh tháng Bẩy âm lịch vì cho là tháng Ngâu Vầy (tích Ngưu Lang – Chức Nữ bị trời rẽ duyên, mỗi năm chỉ tháng bảy mới cho gặp mặt, vợ chồng khóc thảm thiết, nước mắt rơi xuống thành mưa Ngâu). Thời điểm thuận tiện nhất cho chuyện cưới hỏi là vào cuối năm, thời tiết khô ráo mát mẻ, mùa màng thu hoạch xong, việc buôn bán làm ăn có phần rủng rỉnh

Cưới “đi”, cưới “chạy bầu”

Thời nay, chuyện cưới hỏi nhanh chóng và đơn giản nhiều. Lắm khi cha mẹ, họ tộc bị tước quyền quyết định từ đầu. Thậm chí nhiều vị còn sống sờ sờ nhưng trong đám cưới con phải làm khách mời, ngồi ngậm ngùi xem các “diễn viên” đóng thế. Đó có thể là đám cưới xuyên quốc gia giữa “em gái vườn quê, cuộc đời trong trắng” với các ông Đài Loan, Hàn Quốc già khú, ngớ ngẩn, bất toàn. Trước cưới hỏi, yêu thương không có, xem tuổi không có, càng không có sêu tết lôi thôi. Cần nói thêm, năm bẩy năm trước phong trào lấy chồng nước ngoài rộ lên ở Hải Phòng, An Giang, Cần Thơ, tới nay vẫn không hề giảm bớt.

Đám cưới của công nhân lò gạch. Nguyệt Hà/Việt Tribune

Muốn thấy các “đôi đũa lệch” Việt- Hàn, Việt- Đài diễn cảnh âu yếm trước ống kính chuyên nghiệp của ê kíp chụp ảnh, chỉ cần đứng trước nhà thờ Đức Bà, đi ngang nhà hàng Chợ Lớn, đến khu du lịch Suối Tiên, Đầm Sen, Thảo Cầm Viên. Đám cưới loại này, thực chất là đám bán con, luôn đãi ở nhà hàng. Đằng trai thường chỉ có chú rể, người thông ngôn, bà mai và đám bảo kê. Đằng gái đông hơn một chút. Ăn uống xong, cha mẹ về xứ, con về khách sạn.. nộp mình. Tiền bạc, vòng vàng phần lớn bị đám cò mồi chặn lại. Cô gái chỉ có hai bàn tay không. Ngôn ngữ bất đồng, không tình yêu, không thông cảm. Mấy ngày ở khách sạn là đủ mấy ngày bị đè, bị đánh dã man. Cho tới ngày ra sân bay, chủ “đường dây” (kiêm môi giới) và đám tay chân luôn kè kè bên cha mẹ cô gái, dọa sẽ có “biện pháp mạnh” nếu cô không chịu lên máy bay. Đó là tâm sự của cô gái quê An Giang, 22 tuổi, tên KH, khai với công an, ngay sau khi trở lại khu làm thủ tục để xin hủy chuyến bay CI 784 của hãng China Airlines đi từ sân bay Tân Sơn Nhất sang Đài Bắc hôm 25 tháng 4 vừa qua. Những lời khai đầy nước mắt của cô gái, một lần nữa cho thấy nạn “chảy máu cô dâu” ở Việt Nam vẫn hết sức đáng quan ngại!

Không thê thảm như những đám cưới xuyên lục địa, chỉ phải mỗi tội nghèo rớt mùng tơi rơi nước mắt, là đám cưới của những đôi bạn cùng lớp, cùng trường, cùng tổ đội sản xuất, cùng ca kíp nhà máy xí nghiệp. Mới lớn lên, đã phải ra đời bương chải, họ không có nhiều cơ hội mở rộng tầm mắt, tìm bạn bốn phương mà dễ dàng chấp nhận “trâu ta ăn cỏ đồng ta”, có điều “cỏ” phải “khuyến mãi”, cho “trâu” thử trước. Ngon, mới tiến tới, không thì húc như trâu húc mả, rồi biến. Ai không biết thân con gái, “khôn ba năm, dại một giờ”, nhưng biết là một chuyện, giữ được lại là chuyện khác. Nhiều cô, sau khi “dại một giờ, đành phải cưới “chạy bầu” với nhiều thua thiệt, rẻ rúng.

Một quang cảnh về dịch vụ chụp ảnh đám cưới trên đường phố Hà Nội, Việt Nam ngày 26 tháng 8, 2010. HOÀNG ĐÌNH NAM/AFP/Getty Images

Lấy thu bù chi, còn tí ti làm vốn

“Bọn em quen từ hồi đại học. Sau khi “đại đăng khoa”, đi làm dành dụm mấy năm trời, vẫn chưa lo nổi “tiểu đăng khoa”. Cha mẹ hai bên đều thanh bạch, đâu yểm trợ được đồng nào.”
Nghe tâm sự của thầy giáo trẻ Kính Quốc, kẻ viết bài cám cảnh, đọc cho nghe bài thơ “Mầu tím hoa sim” của Hữu Loan với mô hình cưới tiết kiệm tối đa “Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới… Tôi ở đơn vị về, đôi giầy đinh bết bùn hành quân.. Cưới nhau xong là đi”.
Quốc xua tay. Sau một tuần nằm “vắt chân lên trán, tư duy”, cuối cùng anh ta quyết định chọn mô hình cưới to, mời đông, “lấy thu bù chi, còn tí ti làm vốn”.

Cách này chẳng mới mẻ gì, vì nhiều người Sài Gòn quen biết rộng, thanh thế lớn cũng hay áp dụng. Một văn sĩ có dịp dự vài đám cưới con chủ tịch huyện, em hiệu trưởng, cháu tổng giám đốc, ca sĩ ngôi sao, đã cho kẻ viết bài bảng giá đám cưới: 20 đô la ở nhà hàng không tên tuổi, gấp đôi nếu ở Phong Lan, Đồi Sao, Hoa Sứ, Đồng Khánh, còn Novotel, White Palace, New World.. thì 500 đôla. Dĩ nhiên, những đám cưới hoành tráng này, chủ nhân chẳng lỗ vốn bao giờ.
Những tưởng mô hình cưới to, mời đông chỉ thịnh hành ở Sài Gòn, không ngờ Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tầu, Long An.. cũng “quán triệt sâu sắc”. Có dịp đi qua “con đường đám cưới” trong khu công nghiệp Sóng Thần, kẻ viết bài đếm được gần chục cặp cô dâu chú rể cùng lúc dàn hàng ngang phía trước nhà hàng Kim Phượng, Đồng Khánh. Anh Vinh, thợ chụp ảnh cưới trong nhà hàng cho biết đó là đám cưới các công nhân ngụ cư. Gia đình đôi bên ở Thanh Hóa, Sóc Trăng, Quảng Ngãi xa xôi, ít khi vào chung vui đông đủ. Có cặp phải nhờ chủ nhà trọ, chủ tiệm, cả chủ xe ba gác đóng vai “người lớn”. Đặt hai chục bàn tiệc, loại bét nhất cũng 800.000 đồng một bàn. Nếu khách đông, mỗi người mừng 100.000 đồng thì “trúng quả”. Nếu khách thưa thớt thì lỗ sở hụi. Bởi vậy, tổ chức cùng ngày, cùng giờ, đãi cùng nhà hàng, cặp nào cũng phải ra “đứng đường” đón khách, tránh cặp khác cướp khách của mình.

Trả lời thắc mắc sao không đãi vào ngày giờ khác, chỗ khác mà “chui” chung một chỗ cho rắc rối, một cô gái, năm ngoái từng khoác áo cô dâu, cho biết do phụ thuộc vào công ăn việc làm trong công ty xí nghiệp, cả tuần chỉ nghỉ được mỗi chủ nhật. Bất kể đó có phải ngày tốt, ngày hợp tuổi hay không cũng phải làm. Làm ngày khác bạn bè không đi được. Trong một khu công nghiệp, thường có vài nhà hàng chuyên tiệc cưới. Ai cũng từng ít nhiều đi dự tiệc cưới tại đó. Tới phiên mình cũng tới đó đặt bàn. Kiếm chỗ xa hơn chưa chắc đã rẻ, mà đâu biết chỗ nào mà kiếm (!).

Cái đinh của tiệc cưới nào cũng vậy, thường tập trung vào sự trẻ đẹp của cô dâu. Biết vậy, nên dù là công nhân lò gạch hay công nhân may túi xách thì trong ngày trọng đại nhất đời mình các cô đều muốn trắng da dài tóc, vóc dáng trang đài. Dịch vụ biến lọ lem thành công chúa do vậy trở thành quan trọng bậc nhất bậc nhì. Một chiếc áo cưới kiểu tây phương bằng voan nhiều lớp, màu trắng, hình chữ A, ở thành thị phải trên một triệu đồng. Mỗi cô dâu cần ít nhất ba áo kiểu đó mặc thay đổi khi đãi tiệc, thêm một áo dài gấm đỏ mặc lúc làm lễ. Chưa kể quay phim, chụp ảnh ngoài trời, tùy bối cảnh mà trang phục, đạo cụ sẽ gia giảm ít nhiều. Nhóm Thanh, chuyên chụp ảnh cưới ngoài trời ở tỉnh Đồng Nai cho biết nhóm nào cũng gồm năm người, một nguời chụp chính, một ngưòi phụ đèn, kéo dây, che dù, hai người xách đạo cụ, trang điểm cô dâu, một người lái xe. Muốn chụp ảnh thắng cảnh, ví dụ thác Giang Điền, anh phải mua vé cổng cho cả đoàn, tính luôn cô dâu chú rể, gần một triệu đồng một lần. Công nhân nghèo không mấy người dám làm album cưới, chỉ nhờ chụp vài chục tấm hình đãi tiệc với giá 7.000 đồng một tấm. Nhiều khi không nỡ lấy tiền, cho luôn.

Theo chân anh Thanh, trong vai thợ phụ, kẻ viết bài đến lò gạch P. Lộc, tỉnh Bình Dương, tận mắt chứng kiến một đám cưới nghèo. Trong sân phơi gạch tạm lấy làm chỗ che bạt đãi tiệc, cô dâu chú rể đứng cùng cha mẹ, bạn bè (cùng làm chung lò gạch). Ai cũng mặc trang phục chắp vá, thuê mượn, mặt mũi đen đúa, dãi dầu. Chú rể mới xong việc chụm lò, xỏ vội đồ cưới, lê dép lẹt quẹt ra đứng cạnh cô dâu. Nhìn cô gái xúng xính áo cưới sang trọng ai biết là áo thuê hai trăm ngàn, cộng một trăm ngàn “đổi trắng thay đen” cho làn da và mái tóc cháy nắng. Khi tiệc tàn, cha chồng móc túi cho “vợ chồng bay” 100.000 đồng (sáu đô la). Không chịu thua sút, cha mẹ vợ cũng dúi tận tay “sắp nhỏ” hai trăm ngàn (hơn 10 đôla) làm vốn. Nhìn bộ hình cưới đủ cảnh ôm nhau tình tứ trên đồi thông Đà Lạt, giỡn sóng ngoài biển Phan Thiết, chèo ghe trên sông nước Bến Tre, kẻ viết bài không khỏi phục tài thợ ảnh. Chỉ vài thao tác chụp, ghép, sửa ảnh, họ đã thực sự mang lại niềm vui to lớn cho những kẻ chẳng biết đâu khác ngoài môi trường lao động cực nhọc hàng ngày của mình.

Sau đám cưới, mọi việc của những người hôm qua còn là tình nhân, hôm nay đã là vợ chồng, thường không đẹp như mong ước. Đối diện với khoản chi đám cưới lớn hơn tiền mừng, những khác biệt trong thói quen sinh hoạt, những âm mưu, thất bại trong chuyện gối chăn.. trăm thứ đau đầu khiến nhiều cặp nhanh chóng keo rã hồ tan, thậm chí ngồi bóc lịch trong tù hay ra nằm nghĩa địa.

Kẻ viết bài, từng biết một tình trạng dở khóc dở cười như vậy. Hai em Nga và Lộc, hồi học phổ thông, vốn “tình trong như đã”, nhưng do Lộc quá nhát, chẳng dám ngỏ lời, đành gửi tình thơ cho mây ngàn bay. Sau gần hai mươi năm, nhờ chương trình phát trên ti vi, họ gặp lại nhau. Nàng nay đường đường là doanh nhân ngành gỗ. Chàng cũng là chuyên viên ngân hàng. Lập tức chàng chữa bệnh nhát gan hồi xưa của mình bằng câu hỏi hữu ý “Bạn cũ rảnh không? Rảnh. Còn anh? Cũng rảnh.” Vậy là hai kẻ rảnh rỗi hè nhau làm… đám cưới, mời thầy cô cũ, bạn bè cũ “làm một trận đã đời”. Bữa tiệc đang vui, bỗng xuất hiện một sư tử Hà Đông, dắt theo thằng nhỏ có gương mặt “sao y bản chánh”. Vậy là….

Bởi thế, hầu hết những người ít nhiều liên quan tới cưới hỏi như cha xứ làm phép cưới, tiệm cho thuê đồ cưới, nhà xã hội học giảng dạy văn hóa cưới, thẩm phán ngồi xử ly hôn.. .đều có chung nhận xét cưới hỏi là chuyện trọng đại nhất đời người, là loại lễ hội đặc biệt, in đậm dấu ấn văn hóa truyền thống. Không nên đùa giỡn, coi thường, đi tắt, bỏ qua những quy định pháp luật, những nghi lễ cưới xin. Bất đắc dĩ lắm mới phải cưới nhiều lần hoặc không lần nào, còn nói chung, nên nghiêm túc, cẩn trọng với chuyện chung thân đại sự. Mọi toan tính, biểu hiện lệch lạc như thách cưới, tảo hôn, cưới giùm, cưới tắt, cưới chạy, cưới “đi”… không sớm thì muộn, đều rước lấy hậu quả. Khổ chẳng phải một người mà còn lây cả nhà, cả con cháu đời sau.

Trong ca dao, những bi kịch cưới được diễn tả ý nhị mà vẫn hết sức đắng cay:
Từ khi còn ở với cha.
Cái nón tiền rưỡi, quai ba mươi đồng.
Bước chân về tới nhà chồng.
Cái nón một đồng mà buộc quai mo”.
Cô gái đành chịu cảnh
“Bây giờ kẻ thấp người cao,
Như đôi đũa lệch so sao cho bằng” với anh chồng hãy còn thò lò mũi, “mùa đông tháng giá nó nằm co trong lòng”. Cha mẹ nào nghe thấu tiếng con gái khóc than “Tham giầu đã thấy giầu chưa, bữa cơm nước mắt như mưa tháng Mười

Hôn nhân như vậy, quả là ác mộng. Tiếc thay, ác mộng nọ, thời hiện đại vẫn nhiều. Và những “người lớn”, người trẻ sắp cưới nhau, sắp dùng đám cưới làm mồi bẫy nhau, dĩ nhiên đều chẳng thèm một lần dở lại ca dao.[NH]

source

Viet Tribune Online

Thứ Hai, 27 tháng 9, 2010

Sài Gòn và ‘hàng ngoại’ ngày nay


Sài Gòn và ‘hàng ngoại’ ngày nay
Sunday, September 26, 2010



Sài Gòn Cô Nương/Người Việt

Hệ thống siêu thị Metro đã làm ăn ở Việt Nam, trong đó hầu hết là hàng ngoại. (Hình: Hoàng Ðình Nam/Getty Images)

“Hàng ngoại” là cách gọi các loại hàng ngoại quốc vào VN bằng con đường nhập cảng chính thức đi qua hàng rào quan thuế, hoặc lậu thuế bằng cách luồn lách qua biên giới, qua hàng xách tay...

Nhiều nhất là hàng tiêu dùng, hàng kim khí điện máy, thực phẩm đóng gói, vải vóc quần áo,... chiếm lĩnh hầu hết thị trường VN. Gần đây, nổi bật ô tô, xe gắn máy, điện thoại iPhone,... ồ ạt tràn vào VN. Nhiều nhãn hiệu cao cấp nước ngoài về quần áo, mỹ phẩm, đồng hồ... cũng xuất hiện nhan nhản khắp nơi. Hàng xa xỉ giá cao vọt hẳn nên rất ít người với tới như: Ðồ chơi trẻ em giá từ vài trăm ngàn đến bạc triệu, quần jean hơn một triệu... nằm ở siêu thị sang trọng dành cho số ít người giàu nơi mà ngay cả dạo chơi, “hóng mát,” người nghèo cũng không dám bước chân vào.

Vừa túi tiền hơn là hàng Thái lan, Ðài loan, Indonesia... Những xứ láng giềng này không những cung cấp hàng hóa giá thấp mà còn rất phong phú đủ mọi thứ không thiếu thứ gì. Nhiều nhất từ Ðông Nam Á do vị trí láng giềng gần gũi, không tốn nhiều thời gian, công sức vận chuyển là hàng Mã Lai, Singapore, Hongkong...

Hàng Thái Lan, Trung Quốc có mặt ở Tịnh Biên (An Giang), hàng Trung Quốc tung hoành độc chiếm chợ Tân Thanh (Lạng Sơn), hàng Thái, Lào, Trung Quốc ở cửa khẩu Mộc Bài (Tây Ninh)... Tuy nhiên điểm mặt khắp nơi bán sỉ, bán lẻ thấy ngay áp đảo là hàng Trung Quốc.

Vì sát kề một bên nên hàng Trung Quốc dễ dàng vào Việt Nam đâu có cần phải làm thủ tục xuất nhập khẩu. Cứ đường bộ mà đi. Chợ biên giới được chính thức lập ra. Bên cạnh đó, đoàn quân cửu vạn hàng ngày kìn kìn thồ, vác theo mọi ngõ ngách lối mòn, cắt rừng, băng núi chuyên chở hàng lậu hàng trăm tấn mỗi ngày.

Hàng Trung Quốc trước kia gọi là Trung Cộng tức hàng Tàu không thiếu thứ gì. Ðồ chơi của con nít trừ hàng cao cấp Lego, búp bê Barbie... dành cho số ít khá giả và hàng VN là vài món đồ chơi bằng gỗ, bằng nhựa đơn điệu, màu sắc xám xịt không thể nào trụ nổi với cơn bão táp đồ chơi Trung Quốc. Từ cửa tiệm lớn đến tấm bạt dã chiến trải dưới đất ở mọi ngôi chợ chồm hổm đều bán hàng Tàu: từ hàng kim khí điện máy: TV, đầu máy cassette, bàn ủi, radio... đến hàng gia dụng: bộ ly tách, chén đũa, đèn pin... cho tới... hạ cám: dép, guốc, tất vớ, tăm xỉa răng... thảy đều hàng Trung Quốc.

Cứ đi ra ngoài đường nhìn quanh chẳng có món hàng nào bày ra trước mắt mà không dán nhãn “Made in China.”

Hình thức hàng ngoại lại rất hấp dẫn: vừa nhẹ, vừa đẹp, vừa xinh, vừa gọn... Ngoài đường hầu như không còn thấy ai mặc quần áo vá. Bà hàng cá “lên” áo hai dây đính hột đá, ông vé số áo pull Cá sấu, cô bồi bàn quần xệ... nếu không phải quần áo cũ SIDA vài ngàn một chiếc thì đều là hàng Trung Quốc. Bộ đầm xòe màu mè kết ren đính hột dành đi đám giá hơn trăm ngàn, áo gió trời lạnh nhún bèo xinh xắn chỉ ba chục ngàn... cũng là hàng Tàu. Hàng Tàu rẻ không thể tưởng tượng được. Với dân số một tỷ ba, giá nhân công thấp và tính cần cù nhạy bén kinh doanh. Nhiều người Việt không sản xuất trong nước mà sang Trung Quốc đặt hàng. Số lượng ít mấy họ cũng làm, mẫu mã thay đổi mấy cũng chịu và giá nào cũng ừ...

Chủng loại hàng hóa phong phú, giá rẻ mạt, rẻ còn hơn cho nhưng đúng là “tiền nào của nấy,” chất lượng hàng Tàu luôn bị mang tiếng.

Chị Linh đi du lịch phía Bắc. Tận dụng cơ hội đến khu chợ biên giới nổi tiếng bán hàng rẻ. Bà bạn dặn dò kỹ lưỡng:

“Chị không biết coi máy móc chớ mua TV, cát-sét làm chi, bây giờ đang mùa mưa, cứ mang về mấy chục cây dù đi mưa với một rổ điện thoại di động nhét dưới thùng xe, đâu có sợ choán chỗ. Mấy thứ đó thông dụng ai cũng cần, lúc nào cũng hút hàng, coi như mình gỡ tiền tàu xe du lịch...”

Các loại “hàng Tàu” nhập lậu với giá rẻ mạt. (Hình: H.A/Người Việt)

Ghé chợ biên giới Tân Thanh. Chị Linh thấy người ta mua sắm như điên mà hoa cả mắt. USB dung lượng 2G bốn chục ngàn đồng, dù mười lăm ngàn một cây. Bà bạn quân sư thật chí lý, kẹt là chị không có máu buôn bán nên cứ ngắm nghía hết hàng này đến hàng khác rồi... thôi. Về tới Sài Gòn mới hú hồn vì USB thì câm điếc, còn dù long gọng vứt thùng rác nguyên bó. Riêng mền bông Trung Quốc giá trăm ngàn một chiếc, về tới Hà nội giá đã tăng trăm ba, hí hửng dùng được hai tuần thì mền bung chỉ, toạc vải, bông rơi lả tả vứt đi thật tiếc người ta bỏ bao nhiêu công để làm nên những món hàng dối gạt như vậy.

Ðúng là Trung Quốc chuyên sản xuất những loại hàng đẹp mã nhưng chất lượng không phải chỉ xấu mà còn nguy hại cho sức khỏe: Xe gắn máy gãy cổ, đũa gỗ gây ung thư, dép cao su đi trong nhà khiến lở loét da, đồ chơi trẻ có nồng độ chì cao, vải gây dị ứng da, cả giày cao cấp do Trung Quốc làm nhái giày Ý cũng có thể gây bệnh ung thư phổi... Cuối năm ngoái, hơn hai chục giáo viên và học sinh ở Thanh Hóa bị ngộ độc hóa chất trong đồ chơi “hạt nở” của Trung Quốc. Dị ứng, viêm da là những ca thường gặp ở bệnh viện Da Liễu và Nhi Ðồng từ hàng hóa Trung Quốc.

Thức ăn “Made in China” cũng đặc biệt: Lẩu Tàu một gói nhỏ sáu ngàn đồng nấu được cả nồi nước dùng, vừa ngọt như hầm nhừ mấy ký xương vừa hít hà thơm điếc mũi nên không phải chỉ các bà nội trợ mua về nấu nướng, mà cả hàng quán từ vỉa hè cho chí tiệm ăn nhà hàng lớn đều mua về dùng, giá sỉ còn rẻ dữ dội hơn; Sudan là chất nhuộm công nghiệp được chứng minh gây ung thư cho chuột và thỏ được dùng trong son môi, trong tương ớt, bột ớt, trong thức ăn gia cầm khiến trứng có màu đỏ thắm tuyệt đẹp; trái cây cam quýt lê táo “trường sinh” bày bàn thờ hương nến, thời tiết nắng oi nóng nực cả tháng trời vẫn đẹp mơn mởn, bổ ra ăn vẫn giòn ngon, chừng hai tháng... trở lên mới hỏng bên trong nhưng bên ngoài đúng là “bất tử,” màu sắc không hề suy suyển. Hoành thánh là món ăn đặc sản của người Hoa cũng có thuốc trừ sâu trong đó, kem đánh răng chứa chất diethylene glycol (DEG) cao gấp năm mươi lần hàm lượng an toàn cho phép đã gây tử vong người ...

Bà Hà xách giỏ ra chợ cẩn thận hỏi cà rốt củ nào trồng ở Ðà Lạt, củ nào xuất xứ Trung Quốc. Người bán trả lời dễ ợt nhìn là biết liền, củ cà rốt sạch sẽ, mập mạp, hồng hào đẹp như trong phim hoạt họa đích thị hàng Trung Quốc; còn củ nào quắt queo, đầy mắt, đầy rễ, đất đỏ dơ bám đầy mình là hàng Ðà Lạt. Cho nên ai chọn củ cà rốt èo uột mới là người... sành ăn! Riêng trứng nhìn bằng mắt chịu thua, quả nào nhìn cũng giống nhau.

Nếu thích “chưng” vẫn dùng hàng Trung Quốc. Anh Tài giáo viên thương thằng con sáu tuổi dữ lắm bấm bụng mua một chiếc máy bay điều khiển tự động giá một trăm ngàn. Giá đó khá cao nên máy bay nhìn đẹp lắm, màu trắng bạc, từng chi tiết tỉ mỉ đẹp không chê vào đâu được. Chỉ có điều vừa cất cánh lên đúng nửa thước thì rớt phịch xuống, văng bánh xe nằm thẳng cẳng dưới đất. Sau lần cất cánh duy nhất đó, chiếc máy bay chui thẳng vào nằm luôn trong hangar là chiếc tủ búp phê kê ngoài phòng khách.

Bởi “mất uy tín” quá nên hàng Trung Quốc phải nhái các nhãn hiệu khác. Ông Ất xem quảng cáo trong TV máy hút bụi Tây Ban Nha khuyến mãi với giá cực rẻ, được dịp ít tiền dùng món đồ xa xỉ nên ông bèn điện thoại đặt mua ngay. Nhân viên giao hàng đến nhà gặp hôm cúp điện.

Theo đúng tinh thần “vọng ngoại” miễn hàng của Tây, không phải hàng ta đương nhiên là thứ tốt nên ông trả tiền ngay, khỏi chờ thử. Nào ngờ, tối đến có điện, thì máy đứng ỳ ra chẳng thèm hắt hơi lấy một tiếng. Cả nhà săm soi tìm mãi mới lòi ra hàng chữ “Made in China” ở góc kẹt chiếc máy. Ðiện thoại hỏi thì được hãng trả lời hàng Tây Ban Nha nhưng sản xuất bên Tàu.

Ngoài ra đồ chơi Trung Quốc dán nhãn Singapore, xe gắn máy Tàu nhái hàng Nhật, nào là: Waver, Dreamer, Hongda... Mới nhác qua tưởng Wave, Dream, Honda... Người đi loại xe này nâng xe như nâng trứng, hứng như hứng hoa, chạy nhẹ nhàng, tránh dằn xóc, vì đã từng nhiều trường hợp sứt càng gãy gọng gây tai nạn, thương tật. Giá xe chỉ bằng một phần ba xe chính hãng, không đủ tiền mua xe thật thì người ta đành đi chiếc xe nhái cho nó... đỡ ghiền vậy.

Trước kia, trẻ con bú sữa đặc có đường nếu con nhà nghèo hoặc Dielac trung bình hay Guigoz nếu nhà khá khá. Khoảng chục năm lại đây, đời sống thị dân khá lên, lại có chính sách mỗi nhà chỉ có một đến hai con nên dân có tiền thi nhau đi mua sữa ngoại để chứng tỏ đẳng cấp. Sữa càng đắt càng tốt, trẻ càng thông minh. Sữa nhiều tiền tới đâu, trẻ thông minh tới đó!

Bây giờ nhiều hãng sữa tha hồ lựa chọn. Rồi sữa F. 1 dành cho bé từ 6 tháng đến 8 tháng, F. 2 cho bé từ 8 đến 10 tháng, F. 3 từ 10 đến 12 tháng... Rồi cạnh tranh nhau nhau hàng sữa này có thêm chất DHA, ARA làm cho trẻ thông minh, học giỏi, chất Prebiotic giúp tăng cường hệ tiêu hóa, chất Palatinose làm cho bé học hỏi không ngừng, Omega 3, Omega 6 cho trẻ năng động...

Sữa vẫn uống thường ngày vẫn tưởng là xuất xứ từ các nước chuyên nuôi bò sữa như Úc, Hà Lan, Ðan Mạch... tới bây giờ mới té ngửa là lắm khi sữa Úc nhập từ... Bắc Kinh. Giờ thì vụ sữa Trung Quốc gây sạn thận mới tá hỏa. Sữa của họ bị phát hiện nhiễm melamine, một loại hóa chất vốn chỉ dùng cho việc sản xuất chất dẻo và phân bón. Sữa Trung Quốc vào được lãnh thổ VN mới bắt đầu biến hóa. Thời buổi này bao bì là chuyện nhỏ nên ruột là sữa Trung Quốc đâu có ai biết, còn hộp thì muốn sao được vậy. Các kho chứa đầy bao sữa bột Trung Quốc chiết ra hộp thiếc dán nhãn. Người tiêu dùng chuộng Made in... nào thì người bán dán nhãn Made in ... đó. Toàn là Made in New Zealand, Made in Australia, Made in Holland...

Nhiều kho chứa bột sữa Tàu có date tháng 9, 2008 giờ này còn ở trong kho, đến lúc ra thị trường bán lẻ thì chắc chuyển lên thành date tháng 9, 2010 !!!

Hàng ngoại là vậy nhưng hàng hóa VN chẳng thèm nhúc nhích chớp lấy thời cơ. Khó đổ tại cho tâm lý sính hàng ngoại của người dân khi hàng nội kém về chủng loại, số lượng lẫn chất lượng. Cho nên chất lượng kém cỏi mấy hàng ngoại vẫn bình chân như vại và hàng Việt Nam khoanh tay nhìn...

source

NGUOI-VIET Online

Thứ Sáu, 10 tháng 9, 2010

Chùa Tà Cú Phan Thiết


Chùa Tà Cú Phan Thiết
Cập nhật lúc 8:33:17 PM - 03/09/2010
Bài và ảnh: Trần Công Nhung

(Tiếp theo và hết)


w-H1-281.jpg

Tượng Tổ Hữu Đức


Toàn bộ ngôi chùa đang thời kỳ thi công tái thiết. Chánh điện 3 tầng mái, khu nhà đông nhà tây hai tầng mái, sau chánh điện là nhà Tổ. Tất cả đồ tế tự, tượng ảnh đều dời về ngôi nhà tạm bên hông. Tuy thợ thầy đang làm việc, mà chùa vẫn yên tĩnh, tôi vào nhà phụ lễ Phật. Có hai bà huơ huơ hai bó nhang trên tay miệng lẩm bẩm cầu xin, khói tỏa mịt mù(8). Chờ hai bà ra, tôi lẳng lặng đảnh lễ mà không thắp nhang. Vừa cúi đầu lạy thì nghe tiếng chuông trên bàn Phật vang lên, tôi giật mình, thẳng người lạy thứ hai, tôi thấy một vị Tăng trong bộ áo lam đang thỉnh chuông. Lúc tôi hoàn tất ba lạy, thì vị Tăng cũng vừa quay lui khuất sau bàn thờ. Lễ Phật thường có thỉnh chuông, hoặc tự mình, hoặc do người khác giúp. Tôi vòng ra nhà sau có ý tìm gặp nhà sư để hỏi đôi điều.

w-H2-281.jpg

Nhìn xuống chân núi Tà Cú

w-H3-281.jpg

Mái chùa Tà Cú

w-H4-281.jpg

Thầy Minh


Sau gian thờ Phật là nhà nghỉ của chùa. Tôi đang tần ngần có ý dò xem, thì nhà sư lúc nãy bước ra; nhà sư còn trẻ tướng người đạo mạo chững chạc. Tôi định chào hỏi vài câu rồi đi, nên không ngồi xuống ghế; nhưng Thầy cố nài, tôi đành ngồi xuống:
- Thưa Thầy, lâu nay nghe tên chùa Tà Cú nay mới có dịp đến thăm. Thưa Thầy hình như tên chùa trước kia là Trà Cú?
- Đúng vậy, tuy nhiên sách vở viết Tà Cú, lý do đó là tiếng Chăm, tên của ngọn núi này. Ở đây có 4 ngọn núi: Tà Đặng, Tà Dôn, Tà Ban, Tà Cú, bốn ông Tà ở bốn núi. Sư Tổ sáng lập chùa, thêm chữ r thành Trà Cú.
- Thưa, Thầy là trụ trì chùa?
- Không, tôi là thầy Minh, trợ lý sư bà BaLa trụ trì.
- Thưa Thầy, trước khi có cáp treo, đường lên chùa ở lối nào?
- Cũng theo hướng của cáp treo. Hồi đó trai trẻ có thể đi chừng 2 tiếng, còn thường phải 3, 4 tiếng. Do mất thì giờ như vậy, nên khách lên đây phải ở lại hôm sau mới xuống.
- Thưa Thầy, chùa trùng tu khá qui mô, như vậy chừng nào mới hoàn mãn?
- Phải 4 năm nữa.
- Thưa chùa có tài liệu gì xin Thầy để cho một tập.
- Hiện thì không còn, chú cho địa chỉ khi nào có tôi gởi cho.
Tôi ghi địa chỉ và xin gửi chút đỉnh lệ phí, nhưng thầy Minh từ chối không nhận. Thầy còn hướng dẫn tôi đi xem tượng của Sư Tổ mới tạc bằng đá xanh.
- Chú đã thấy tượng Sư Tổ mới làm chưa?
- Dạ chưa.
- Đi, chú lên coi tượng lớn và đẹp lắm.
Thầy Minh dẫn tôi vào nhà Tổ. Toàn phạm vi trùng tu được chăng bạt che kín, khách chỉ đi vòng ngoài khu vực đang thực hiện để lên xem tượng Niết Bàn. Nhà tổ khá rộng, ngổn ngang vật liệu, phần sườn đúc chưa xong, chính giữa có pho tượng bằng đá xanh cao cỡ 3 mét, trong tư thế kiết già, toàn pho tượng toát lên nét từ bi tự tại. Tôi nghĩ, phải là tác phẩm của một nghệ sĩ điêu khắc có tâm Phật. Nhiều tượng Phật, tượng Bồ Tát đồ sộ nhưng thiếu nét đạo hạnh, gây phản ứng ngược đối với người xem. Người tạc tượng Phật Thánh, không chỉ biết đục đẽo, mà còn phải thể nhập được tinh thần của đạo lý mới đạt.
Chánh điện, nhà Đông nhà Tây, nhà Tổ, mái lợp ngói vảy cá đỏ tươi, sóng mái đắp đầu rồng cách điệu theo dạng mũi hài, nhẹ nhàng mà nghệ thuật. Kiểu rồng cổ điển râu ria, mắt mũi lồ lộ, rườm rà kém trang nghiêm. Phần sườn bên trong từ cột kèo xuyên trến, đúc toàn xi măng sắt thép, không có gì bằng gỗ.

w-H5-281.jpg

Tượng Niết Bàn

Sau khi giảng giải cho tôi đôi điều, thầy Minh trở lại trai phòng, tôi men theo đường mòn đi xem tượng Phật. Du khách nối đuôi quanh co lần từng bậc đá. Có những em bé theo chị, theo mẹ, lẽ ra không nên, bởi nguy hiểm có thể đến bất ngờ. Lên được một đoạn, nhìn xuống thấy toàn cảnh ngôi chùa: Mái ngói đỏ giữa rừng cây xanh lá trong ánh nắng mai, dưới xa là đồng bằng mênh mông tận chân trời. Nơi đây du khách đã cảm thấy nhẹ nhõm Thân-Tâm, dù không muốn cũng tạm quên tất cả, để hòa mình với thiên nhiên, lắng đọng giây phút, thoát khỏi những ràng buộc của cuộc sống thường ngày. Trong không gian vắng lặng, chúng ta chiêm ngưỡng những pho tượng chư Bồ Tát và chư Phật một cách trọn vẹn: Thẩm mỹ và tâm linh. Trong ánh nắng mai, những góc mái chùa nổi bật nét nghệ thuật cổ kính về đại thể và mới mẻ ở chi tiết sáng tạo. Một hình ảnh theo tôi nghĩ, không thể có dưới đồng bằng. Đi tìm di tích hay danh lam, đôi lúc chỉ cần khám phá một vài chi tiết nhỏ cũng mãn nguyện rồi.
Đầu tiên là tượng Địa Tạng Vương cao lớn, nét mặt hiền từ, tượng trắng toàn thân, cả đài sen cao mấy mét, tất cả đặt trên bệ xây 4 bậc quét vôi vàng. Ai qua cũng dừng lại đảnh lễ. Ngài là vị Bồ Tát tiếp dẫn hương linh lúc quá vãng. Kế đến là khu tượng Di Đà Tam tôn. Nhóm tượng xếp thành hàng ngang, xây trên đài sen: Tượng Phật A Di Đà ở giữa cao 7 mét, bên trái là tượng Bồ Tát Quán Thế Âm và bên phải tượng Bồ Tát Đại Thế Chí đều cao 6,5 mét, cách thiết trí qui mô hơn tượng Bồ Tát Địa Tạng. Dưới chân mỗi tượng có lư nhang, bệ thờ và thùng phước sương. Lên nữa là tượng Niết Bàn, tượng Phật Thích Ca nằm, bức tượng lớn nhất Việt Nam (9), được khởi công từ năm 1960. Tác phẩm do ông Trương Định Ý chủ trì, được đúc làm bằng bê tông, sơn trắng (loại chống thấm nước), dài 49 mét, cao 7 mét, hoàn chỉnh trong đợt trùng tu năm 1963. Tượng nằm trên bệ cao, giữa rừng cây xanh, chung quanh vắng lặng, không một sinh hoạt nào khác của con người. Trước tượng có khoảng sân rộng, có bệ cúng hương, có ghế đá cho du khách nghỉ chân. Quanh năm không khí ở Tà Cú trong lành, mát mẻ. Nhiệt độ trung bình từ 18 đến 22 độ C. Theo tài liệu về địa chất, thì xưa kia nơi này là một ngọn núi lửa thuộc đệ nhất nguyên đại. nên trong đất có vàng sa khoáng và sulfur, trong nước suối có hoạt chất của các loại rễ cây thuốc như ngũ gia bì, thần xạ, đỗ trọng bắc... rất tốt cho những người bệnh gan hoặc bệnh ngoài da. Chính Tổ khai sơn Sư Trần Hữu Đức (1812-1887), pháp danh Thông Âm, pháp hiệu Hữu Đức từ Phú Yên một mình vượt núi, xuyên rừng vào Bình Thuận, dựng một thảo am ở làng Kim Thạnh (Bàu Trâm) vừa tu hành vừa bốc thuốc. Ông đã góp nhiều công sức chăm lo Phật sự ở nhiều chùa tại Bình Thuận như chùa Cổ Thạch, Linh Sơn (Tuy Phong), Phước Hưng (Phan Thiết) và một số chùa ở đảo Phú Quý. Năm 1872, nhà sư lên núi Tà Cú tu trong một hang đá (sau này gọi là hang Tổ). Mãi 7 năm sau, những người đi rừng mới khám phá ra hang đá nơi tu hành của nhà sư và đã góp công của để xây dựng một thảo am cho sư. Từ đó cho đến lúc mất, sư Hữu Đức không xuống núi nữa; vừa tu hành vừa bốc thuốc chữa bệnh cho dân chúng. Được 16 năm thì sư Hữu Đức viên tịch (ngày 5-10-1887). Sau đó sư Tâm Hiền lập ngôi chùa mới ở phía dưới, nay này gọi là chùa Dưới hay chùa Long Đoàn và chùa Linh Sơn Trường Thọ là chùa Trên.

w-H6-281.jpg

Tượng Phật và Bồ Tát

Nhiều người ao ước được một lần đến chùa Tà Cú lễ Phật, được chụp một tấm ảnh kỷ niệm trước tượng Niết Bàn. Ngày nay nhờ có cáp treo, chuyện không còn khó khăn và cũng không tốn kém bao nhiêu, ai cũng có thể đến chiêm ngưỡng một thắng tích vừa bày tỏ lòng tín ngưỡng của mình. Điều nên nói là về lâu dài, giữ sao cho cảnh trí luôn luôn được nghiêm trang, thanh tịnh, không nên biến nơi tôn nghiêm thành chốn chợ trời.
Trần Công Nhung
06 - 2010

(8). Phần đông bá tánh cứ nghĩ đốt nhang thật nhiều mới tỏ được lòng thành, quên rằng khói nhang do tẩm hương liệu độc hại cho sức khỏe. Nhiều chùa ngày nay chỉ cho cắm nhang vào lư lớn trước sân.
(9). Tại tu viện Liễu Quán (San Diego) của Hòa Thượng Nguyên Đạt, cũng có tượng Niết Bàn tạc bằng đá xanh từ Biên Hòa đưa sang. Tượng dài 50 mét.


Sách đã in: Quê Hương Qua Ống Kính tập 1 đến tập 10, Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng, Mùa Nước Lũ (Truyện), Về Nhiếp
nh, Thăng Trầm (chuyện buồn vui một đời người), sách dày trên 200 trang, có 8 phụ bản ảnh màu và cả trăm ảnh đen trắng.
Độc giả muốn có sách xin Liên lạc: Tran Cong Nhung P.O.Box 254 Lawndale, CA. 90260. email:trancongnhung@yahoo.com, Website: www.ltcn.net
source
VienDong Daily

Chùa Tà Cú Phan Thiết


Chùa Tà Cú Phan Thiết
Cập nhật lúc 6:29:35 PM - 28/08/2010
Bài và ảnh: Trần Công Nhung

w-280h1.jpg

Cáp treo lên núi Tà Cú.

Trước 75, tôi thường nghe nhiều người hành hương đến chùa Tà Cú, một ngôi chùa trên núi cao ở Phan Thiết, ngôi chùa có tượng Niết Bàn lớn nhất nước. Phan Thiết thì quá quen, lại dễ đi, nhưng không hiểu sao mãi đến năm nay tôi mới có dịp. Đến Phan Thiết, việc đầu tiên, tôi tìm thăm một bạn ảnh đàn anh, anh Ngô Đình Cường, đường Nguyễn Trường Tộ. Xa nhau quá lâu, tôi chẳng còn nhớ số nhà và mang máng Nguyễn Trường Tộ đâu quanh quanh khu gần chợ... Hỏi không ai biết, có thể đường đã đổi tên, người cũng chắc gì còn. Một bà bán cơm đầu hẻm lại biết rất rõ: “Ổng bị tai biến mà còn khỏe, nhà ổng trong đường này này”. Bà chủ quán vừa nói vừa chỉ con đường ngay bên cạnh.

w-280h3.jpg
Khu du lịch Tà Cú.


Đường Nguyễn Trường Tộ nhỏ xíu như ngày trước, nhà cửa buồn hiu, chạy xe vào một đoạn đã thấy hiệu ảnh Đình Cường. Trí óc dù sắc bén bao nhiêu cũng bị bụi thời gian phủ mờ, gặp nhau phải hàn huyên một lúc, anh mới nhớ. Lúc nhận ra nhau, anh lại nhớ những chi tiết rất nhỏ: “Tôi thích tác phẩm Trở Lòng (1) của anh, catalogue Thế Giới Trẻ Em tôi còn giữ”. Tôi đùa khen anh một câu: “Bao nhiêu người đổi đời, anh vẫn nguyên vóc dáng tuổi tác”. Anh đưa tay dở cái mũ trên đầu, cười: “Ngày xưa tôi hói đầu, nay đầu vẫn hói”. Hói đầu thì nhiều người, nhưng tôi thấy anh Cường hói đặc biệt hơn bởi khuôn mặt anh tròn vo.

w-280h2.jpg
Lên núi Tà Cú.



Chuyện thăm viếng xong, tôi hỏi qua chùa Trà Cú, anh gọi người con rể ra chỉ dẫn cho tôi. “Chùa Tà Cú (2) chứ không phải Trà Cú. Chú đi xe buýt hay chạy xe máy rất tiện. Chùa Tà Cú ở xã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam cách Phan Thiết khoảng 28km. Trên núi Tà Cú có chùa Linh Sơn Trường Thọ, bình dân thường gọi chùa Núi, sách vở ghi: Chùa Tà Cú. Ngày nay có cáp treo, vé lên xuống 50 nghìn, không còn phải leo trèo mất sức, mất thời gian”. Nghe mà mừng, nếu phải leo núi thì cũng ngại mặc dù năm trước tôi đã lên núi Thần Đinh cao chưa từng thấy (3).
Năm giờ sáng hôm sau, từ thành phố Phan Thiết tôi chạy xe gắn máy mất 40 phút, đến cây số 28 có cổng chào ngay ngã ba: Du Lịch Cáp Treo Tà Cú – Hân Hoan Chào Đón Quí Khách. Từ cổng vào núi chừng cây số, đường hai chiều cách nhau bằng dải bồn hoa, có trụ đèn nê-ông, lối trang trí na ná khu du lịch Cần Giờ, Đồ Sơn... hoa lá cành cho vui mắt khách. Từ ngoài cổng chào nhìn đỉnh núi cao mờ mờ trong mây, tôi có cảm giác mình sắp làm công việc của một nhà thám hiểm. Núi xanh mù mù thế kia thì biết tìm chùa nơi đâu.

w-280h4.jpg

Nhà ga cáp.


Khu du lịch gồm nhiều gian, đầu tiên là nhà hàng, quầy vé, nhà xe. Đã có một vài xe đò đi theo đoàn, họ đang dùng điểm tâm, cười đùa vui vẻ trong nhà hàng. Tôi đưa xe vào gửi, 2.000 đồng, rồi trở lại mua vé 65 ngàn đồng để lên núi Tà Cú. Tôi hỏi cô bán vé: “Nghe nói vé 50 ngàn mà?” – “Dạ, 50 ngàn vì hồi đó chưa có xe đưa khách ra nhà ga cáp”. Hỏi cho biết chứ cũng chẳng hơn thua gì, điều đáng nói là lối làm ăn của “nhà nước ta” ưa xé lẻ để tính tiền, chứ không muốn lấy trọn gói. Tỉ như mua vé tàu tại ga Hà Nội 700 ngàn đi Nha Trang, khách đi tiểu phải trả 2.000 đồng. Chuyện giữ xe ở đây là nằm trong tổ chức du lịch, sao lại phải trả thêm tiền gửi xe.

w-280h5.jpg

Thùng rác.


Tôi vào cổng chính của “Khu du lịch Tà Cú”, cổng tam quan mô phỏng cổng nhà chùa, nhưng cách điệu rườm rà, ô tròn, ô vuông, nét cong, nét thẳng, một lối kiến trúc không biết thuộc trường phái kiến trúc nào; lạ mắt chứ chẳng ý nghĩa gì. Bên trong cổng có nhiều công trình hoa viên trang trí qui mô, nhiều quầy bán đồ lưu niệm, có nhà ga cáp trên đồi đá. Đặc biệt dọc theo lối đi có những chiếc bàn gỗ, bên dưới là hai ngăn chứa rác: Một bên dành cho “Chất thải tiêu hủy (Non recyclable)”, một bên dành cho “Chất thải tái chế (Recyclable)”. Tuy vậy tôi thấy khách vứt cả chai nhựa vào ngăn “non recyclable”. Người mình có tính dễ dãi, không bận tâm ba chuyện nhỏ nhặt.
Tôi đi về phía có hai chiếc xe điện đang chờ khách, đây là loại xe của Trung Cộng, chạy êm không máy nổ, mấy năm trước lên Lào Cai tôi đã qua Hà Khẩu, thị trấn biên giới của Trung Cộng, thuê riêng một chiếc dạo chơi quanh thành phố (4).
Trong lúc đợi thêm khách cho đủ chuyến tôi hỏi anh xe:
- Khu du lịch này thuộc tư nhân hay nhà nước?
- Trước là thuộc Tổng Cục Du Lịch, sau cổ phần hóa, 19% nhà nước, còn lại của công nhân viên làm ở đây.
Một đoàn khách kéo ra, từng xe (10 người), chạy vào nhà ga trên đồi cách xa chừng cây số. Tại đây cũng nhiều quầy lưu niệm, bán các thứ tranh ảnh. Từng tốp người lướt qua chẳng ai mua gì... Khách đã chật nhà ga mà cáp vẫn treo yên một chỗ, hỏi sao chưa chạy mới biết “đang chỉnh lại hệ thống...”. Nhân viên làm công việc “phục vụ khách” buồn hiu như người đi “cải tạo” (5), khách hỏi không muốn trả lời. Cuối cùng tôi cũng được lên một cabin, cáp di chuyển êm (6), lên, lên dần, cảnh rừng nguyên sinh đẹp lạ lùng. Từ trên nhìn xuống nhiều cây cao hàng chục mét mà lá nhỏ li ti, có những cây màu lá trắng, có cây thân uốn rất mỹ thuật, có cây thẳng đứng to như cột đình. “Rừng vàng”. Đúng vậy! Song không khéo giữ gìn thì chẳng mấy chốc “rừng vàng” sẽ trở thành núi trọc đồi hoang. Trước mắt biết bao nhiêu “rừng vàng” là những món hàng béo bở cho kẻ có quyền mua qua bán lại. Đã nghe tiếng kêu: “Rừng chảy máu”!
Lúc cáp vừa lên, toàn cảnh núi Tà Cú ngược sáng, chân núi thật sắc nét rồi nhạt mờ dần trong sương mai, tia nắng hình rẽ quạt, đẹp lung linh, cảnh ít thấy dưới đồng bằng. Tôi đưa máy chụp, một vài em bé cũng chụp. Ngày nay máy ảnh như điện thoại ai cũng có, chỉ trừ ông bà già lụm khụm. Máy ảnh càng phổ biến, giới chụp dạo càng ít đi.
Cáp dừng ở nhà ga cách chùa không xa nhưng đường đi phải quanh co một đoạn mới tới cổng. Cổng chùa thấp thoáng qua lá cây trông rất đẹp và gợi cảm, đến gần chỉ là tam quan đơn giản, mái ngói mũi hài, bốn cột trơn, chia thành ba lối đi, 1 chính 2 phụ không cửa đóng. Có thể chùa đang tái thiết, nên cổng chưa hoàn tất. Phải lên mấy chục bậc tam cấp mới đến sân chùa. Do thế núi nên mặt bằng, các hạng mục của chùa nằm ở độ cao khác nhau. Trước khi lên sân chùa, có Bửu Tháp Tổ khai sơn (6) ngay bên phải. Tấm bảng giới thiệu tháp Tổ của Sư Bà Ba La đã quá cũ, tróc sơn phai màu. Bửu Tháp ba tầng tương đối nhỏ.

(Còn tiếp)

Trần Công Nhung
06 – 2010

(1). Giải Chao Mờ 1970.
(2). Tà Cú là gọi theo âm của tiếng Chăm, nên nhiều cách viết khác nhau: Tà Kou, Tà Kú, Tà Cú...
(3). Núi Thần Đinh trang 135 QHQOK tập 10.
(4). Trạm quan thuế Lào Cai trang 105 QHQOK tập 8. VN cấm loại xe 4 bánh Daihashu thì xe điện TQ ào sang VN. Tương tự năm nay (2010), VN điện ngày có ngày không, quạt bình TQ bán chạy như tôm tươi.
(5) Một du khách kể lại trên Internet: 10g sáng ngày 5 – 4 - 2010 tôi mua 2 vé khứ hồi cáp treo lên núi Tà Cú thăm viếng chùa Linh Sơn Trường Thọ, lúc xuống cáp chạy được nửa đường thì chậm dần và dừng hẳn. Tôi hoảng hồn, mở vé ra xem, không có 1 dòng tin tức nào hướng dẫn khi gặp trục trặc, kể cả số điện thoại nóng nguội hay số điện thoại của công ty quản trị cáp treo. Tôi chợt nhớ là điện thoại có GPRS và lập tức tra Google ngay, lùng sục mãi sau 5 phút, may mắn có 1 trang cũng nói về việc Khu du lịch này cũng bỏ rơi một đoàn khách trong đó có 1 em bé 2 tuổi.
Tìm được số 0623869109 có người nghe máy, cô này trả lời là do không có ai đi nên tắt máy nghỉ, tôi nghe xong muốn xỉu; một cô khác gọi điện thoại lại và nói rằng do trục trặc cúp điện nên mới bị dừng, và nói chịu khó chờ, hơn 25 phút treo giữa trời. Xuống đến ga tôi thấy chỉ có 1 nhân viên nam ngồi trong phòng điều khiển nghe điện thoại, anh này bước ra cho biết cáp bị kẹt thắng phải dừng lại sửa (?)
Đến phòng kế hoạch gặp 2 cô, tôi phản ảnh tình hình và được trả lời do cúp điện. 3 lý do: Dừng nghỉ vì không khách – Kẹt thắng cần sửa chữa– Cụp điện ráng chờ - 3 lý do khác nhau đều vô lý. Thật không thể chấp nhận kiểu làm ăn của 1 Công ty du lịch như thế.
(6). Cáp treo được thiết kế theo công nghệ của hãng Doppelmayr (Áo), hãng đã lắp đặt cáp treo Xuân Hương - Đà Lạt. Cáp treo Tà Cú có 25 cabin, mỗi cabin 6 người, tốc độ 5m/giây. Công suất tối đa 35 cabin.


Sách đã in:
Quê Hương Qua Ống Kính tập 1 đến tập 10, Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng, Mùa Nước Lũ (Truyện), Về Nhiếp Ảnh, Thăng Trầm (chuyện buồn vui một đời người), sách dày trên 200 trang, có 8 phụ bản ảnh màu và cả trăm ảnh đen trắng.
Độc giả muốn có sách xin Liên lạc: Tran Cong Nhung P.O.Box 254 Lawndale, CA. 90260 email:trancongnhung@yahoo.com, Website: www.ltcn.net
source
Vien Dong Daily

Thứ Tư, 25 tháng 8, 2010

Thành phố Phan Thiết


Thành phố Phan Thiết
Cập nhật lúc 6:53:54 PM - 20/08/2010
Bài và ảnh: Trần Công Nhung / ViễnĐông

w-1.jpg

Sông Cà Ty.


Năm 1693, đạo quân của Chúa Nguyễn do Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh (1) đi qua đừng chân tại đây, theo gót đoàn quân nhiều người dân các vùng đã đến đây lập nghiệp. Trải qua trên 300 năm, Phan Thiết đã phát triển thành một thị xã sầm uất có dân cư đông đúc.

w-2.jpg

Lưới trên bờ.


Sông Cà Ty chảy qua thành phố, có ba chiếc cầu, tiện việc qua lại nhưng về thẩm mỹ đặc thù theo tôi không có. Cầu treo vóc dáng hơi thô so với dòng sông, cầu Trần Hưng Đạo và cầu Dục Thanh hài hòa hơn. Từ cầu Trần Hưng Đạo nhìn ra bến cảng…, ghe đánh cá ngổn ngang lộn xộn, tuy có màu sắc mà “đội hình” không đẹp, không “bắt mắt”, như khi đứng trên cầu Trần Phú nhìn xuống bến cảng Cù Lao (Nha Trang). Đặc biệt ghe Phan Thiết sơn đường viền chạy theo mạn và mũi thuyền màu vàng nghệ, phần chìm sơn nâu, phần nổi để nguyên màu gỗ và không ghe nào vẽ mắt. Tôi thích lối trang trí đơn giản mà nghệ thuật của làng ghe Phan Thiết.
Hai con đường (Trưng Trắc, Phạm Văn Đồng) chạy dọc theo sông Cà Ty làm cho thành phố Phan Thiết trở nên chững chạc duyên dáng hơn xưa. Buổi chiều dân chài thả lưới cá lên lề đường để rà soát lại trước khi đưa xuống ghe, lưới đỏ thắm dài thườn thượt hàng chục mét, hình ảnh quen thuộc mà màu sắc mới và bạo - Nghệ thuật trong lao động – Nhưng, không hiểu màu đỏ có hấp dẫn cá hơn màu xanh chăng.
Phan Thiết cũng có nhiều công trình xây dựng mới (sau 75), tượng đài công thự, vườn chơi cho trẻ em loại “bỏ túi” ngoài trời, khép nép bên công viên (2). Đại lộ chạy ra Mũi Né tập trung các công sở, ngân hàng... Phan Thiết không hề có nạn kẹt xe, tiếng còi cũng ít và điều đáng khen là người dân rất tôn trọng luật lệ giao thông. Tôi để ý tại ngã tư đèn đỏ, tất cả xe cộ kể cả xe đạp, ba gác... đều dừng sau vạch trắng, và chỉ chạy lúc đèn bật xanh; trong khi Nha Trang, Sài Gòn, Hà Nội... nhiều xe “thô sơ”, xe gắn máy, nhất là xe đạp, cứ chạy tỉnh bơ bất chấp đỏ xanh. Và, tệ hại hơn, đèn đỏ còn 5 giây mới qua xanh, còi xe gắn máy đã nổi lên inh tai. Cùng thì người Việt, tại sao Phan Thiết làm được!

w-3.jpg

Xóm chài.


Nhìn qua, đó là điểm nổi của Phan Thiết, đi sâu vào đời thường thì phần lớn vẫn còn thấp, nghèo, chen chúc... Đứng trên cầu Dục Thanh nhìn xuống xóm nhà ven sông, cảnh chẳng khác gì xóm Cồn, Cửa Bé Nha Trang. Qua các phố, phần đông buôn bán nhỏ, quán cơm, bún cháo bình dân là nhiều (3). Đã mấy lần tôi rảo tìm Phở mà không thấy, có người bảo phở chỉ quanh khu chợ và buổi sáng thôi. Người lại nói có “phở đêm”, rất đông khách. Cà phê thì san sát, quán liền quán. Cà phê thuốc lá có lẽ dân Việt Nam phải được xếp hàng đầu. Tôi đã một đôi lần vào cà phê máy lạnh để trốn nóng và nhờ wifi, nhưng phải chịu trận hít khói thuốc. Đây là thứ “văn hóa” quái đản mà ngoài Việt Nam không ai có, học đòi văn minh máy lạnh, nhưng phun hơi độc (khói thuốc) để luyện phổi. Về âm thanh người Việt cũng thuộc hạng “siêu sao”, la hét kiểu nào cũng nghe thoải mái (4). Phan Thiết nhiều khách sạn và hình như lúc nào cũng đầy khách. Tôi lưu lại mấy ngày mà đã phải ở 3 nơi. Khách sạn Khánh Vi 19 đường Nguyễn Tương, Tân Hưng A2 Lê Quí Đôn, Anh Khôi 150 Thủ Khoa Huân... ; đúng ra chỉ là nhà trọ, phòng nghỉ. Phòng tuy có trang bị nhiều thứ, mà vẫn nghèo nàn. Máy lạnh chỉ để trang trí, chẳng có tí hơi, đã thế khách vừa ra là người làm vào tắt điện. Chiếc quạt gắn trên tường chạy cành cạch, phòng lầu 3 lầu 4 mà không thang máy, không điện thoại; mỗi khi cần gì phải dùng điện thoại cầm tay, nếu không phải lên xuống rất bất tiện và mất thì giờ... Điều tệ hơn là cách trang phục theo lối người nhà, “lấy công làm lời”, nên nhiều lúc không lịch sự tí nào (do không am hiểu). Không riêng gì Phan Thiết mà trên toàn quốc, số đông “khách sạn tự phát” đều thế cả. Với tôi chẳng có gì phiền, dừng chân một hai bữa nghỉ qua đêm sao cũng được, ngày thì lang thang đây đó. Điều đáng nói là người mình không tôn trọng nguyên tắc, không chịu sống thực cái mình có, lúc nào cũng muốn thổi phồng, hô phong hoán vũ, nên lắm chuyện cười mà đau (nôm na: Thích khẩu, bánh vẽ). Trong việc mua bán, mặc cả luôn luôn “đảm bảo”, nói cho xuôi để lấy tiền, rồi cười trừ xin thông cảm. Đã thế lại có bệnh sĩ diện, làm le, chơi nổi.

w-4.jpg

Thành phố Phan Thiết.


Thành phố Phan Thiết chạy xe gắn máy chừng nửa tiếng là hết. Nhưng Phan Thiết có nhiều điểm rõ nét để đi (xem) chứ không thuộc loại “hữu danh vô thực”: Khu du lịch Tà Cú, Mũi Né, Hòn Rơm Bàu Trắng, đảo Phú Quí, trường Dục Thanh. Tận dụng thời gian, tôi chạy ra Mũi Né (5). Nhiều lần đi về giữa Sài Gòn - Nha Trang, xe đò có trạm nghỉ ăn trưa ở Mũi Né, tôi chẳng còn lạ gì. Mũi Né ngày xưa mới là miền đất của làng chài, là đồi cát của nghệ thuật. Hồi thập niên 60, nhiều nhà nhiếp ảnh Việt Nam đoạt huy chương, giải thưởng nhờ đồi cát Mũi Né. Hồi ấy đường đi toàn cát, rừng dừa thì chạy dài theo bờ biển, cảnh nên thơ. Đồi cát thì mênh mông và trinh nguyên đúng nghĩa. Đồi cát thời xa xưa như nàng Tiên của làng ảnh, mỗi lần nghe “đi Mũi Né”, tưởng như đi vào nơi chốn linh thiêng huyền ảo. Bây giờ làm gì còn Mũi Né thuở ban đầu. Vậy nhưng du lịch quảng cáo nghe rất kêu: “Mũi Né là một dãy đồi đất thoai thoải và bãi cát ven biển rộng, thoáng mát với những rặng dừa tuyệt đẹp. Bãi biển nông thoải, nước sạch và trong, nắng ấm quanh năm”. Y như quảng cáo Thác Mai Định Quán, kiếm cơm bằng cách dối trá là bệnh phổ biến của thời đại hôm nay (6). Mũi Né ngày nay đã được ráp nối bằng các “mô hình tiền chế”, Hotel, Resort, Restaurant... làm gì còn rừng dừa, làm gì nhìn thấy biển xanh. Kho tàng tác phẩm nhiếp ảnh (đồi cát) thì nay là nơi xả rác, nơi cho trẻ con trượt chơi bằng tấm nhựa mỏng. Con người xâm thực dần, nhà hàng khách sạn lan dần mãi về Hòn Rơm. Phố xá phát triển đã đưa thiên nhiên vào hộp, biến thiên nhiên thành món trò chơi thô thiển. Điều này chẳng riêng gì Mũi Né, Nha Trang hết 2/3 bãi biển bị che kín bởi nhà hàng để kinh doanh, trong khi các nước có bờ biển, không ai dại dột xây cất nhà cửa như kiểu Việt Nam.
Nghe nói Bàu Trắng cảnh đẹp, tôi đi tìm, phải chạy thêm trên 40 km mới gặp. Bàu Trắng, được kể như một thắng cảnh của Bình Thuận, thuộc thôn Hồng Lâm, xã Hòa Thắng huyện Bắc Bình, cách thành phố Phan Thiết 65 km về phía Đông Bắc. Đoạn đường từ QL 706 rẽ đi Bàu Trắng, nhiều chỗ lởm chởm đá, hai bên đường trống trơn hoang vắng, đúng là còn nguyên sơ. Bàu Trắng là một hồ nước ngọt, có từ lâu đời, nằm giữa vùng đồi cát mênh mông. Từ xưa, người dân quen gọi là Bàu Ông, Bàu Bà. Bàu Trắng khá rộng, nơi sâu nhất 19 mét, quanh bờ có nhiều sen mọc. Một bãi dương đẹp ven bờ phía Đông, bên hồ sen, đồi cát, phong cảnh thật hữu tình. Nhưng, cũng vì miếng ăn, con người đã bắt đầu cắt xén chia chác, xâm phạm và làm sứt mẻ nét tổng thể của phong cảnh. Lều quán dựng ngay lối đi ven bờ, hoặc dưới rừng dương. Con người không bao giờ để thiên nhiên nguyên vẹn, nhìn qua tôi thấy ngành du lịch và nhà cầm quyền địa phương không có kế hoạch gì về nơi này, và chẳng mấy chốc Bàu Trắng sẽ biến thành Bàu Đen.
Nghĩ thì nghĩ vậy, chứ cũng nên thưởng thức chiêm ngưỡng cái hiện có. Một cô gái mặc chiếc áo dài trắng đang thướt tha đi tới, tôi không bỏ lỡ cơ hội:
- Chào cô, hình như cô đi một mình.
- Dạ em có hẹn với chị bạn.
- Vậy trong lúc chờ đợi, tôi nhờ cô chụp một vài tấm hình.
- Dạ được, nhưng em không biết chụp sao cho đẹp đâu.
- Không, không phải chụp cho tôi.
- Vậy cho ai?
- Ý tôi muốn nhờ cô làm người mẫu, chẳng hạn cô đi dưới rừng dương hay ngồi đứng ven bờ hồ...
- Thôi chú nhờ người khác, em chưa bao giờ làm chuyện này, kỳ lắm.
- Không sao mà, cứ tự nhiên như lúc nãy cô đi từ ngoài vào, nếu tôi không nói mà chụp thì cũng đã có ảnh rồi.
Người thiếu nữ do dự, tôi xem như đã dàn xếp xong:
- Đây, em lui lại chỗ gốc dương phía xa rồi đi tới, đi tự nhiên như không hay biết.
Màn một bắt đầu, người mẫu lui tới hai lần rồi chạy ngang cho tà áo tung bay. Màn hai ngồi bên hồ, bây giờ cô gái như đã quen việc, không còn ngại ngùng, mà tỏ ra thích thú. Chụp thêm mấy ảnh chân dung, ảnh ngồi xuống bãi cỏ bên hồ, vừa lúc bạn cô gái đến tìm, tôi cảm ơn và chia tay người mẫu.
Nhìn lần cuối quang cảnh Bàu Trắng, cảnh hoang sơ, thích hợp cho gia đình nghỉ mát, cho nhóm bạn cắm trại hoặc du khách dừng chân chốc lát, chứ không có gì để ở lại lâu hơn. Tôi vội quay về bến cảng để hỏi tàu sáng mai đi Phú Quí.

Trần Công Nhung

06 - 2010

(1). Nguyễn Hữu Cảnh, Khai Quốc Công Thần (QHQOK tập 11).

(2). Có lẽ do tư nhân vì trông sơ sài nhếch nhác lắm. 5 phút cỡi ngựa, ngồi xe... 4.000 đồng.
(3). Dường như ở Phan Thiết người ta ít ăn phở, tôi tìm khắp nơi mà chẳng thấy. Một chị bán cháo gà cho hay chỉ sáng sớm mới có. Và một hàng phở đêm gần chợ.
(4). Bước vào thiên niên kỷ mới rồi mà “văn hóa loa”, vẫn còn khắp nơi từ thôn quê đến thành thị, ngay giữa thủ đô Hà Nội, nơi có trình độ văn hóa cao nhất nước. Có lẽ quen nghe thứ âm thanh “loa công cộng”, nên các quán cà phê, kem, lúc nào cũng mở volume tối đa. Hai buổi tối ở Phan Thiết, tôi được một cô người mẫu đưa đi cà phê Mộc trên đường Lê Quí Đôn và kem máy lạnh Sài Gòn Nelly đường Tôn Đức Thắng, nửa chừng phải bỏ chạy, vì không sao chịu nổi thứ âm thanh đấu bò, thời trang của tuổi trẻ hôm nay.

(5). Tên gọi Mũi Né xuất phát từ việc ngư dân đánh cá, mỗi khi đi biển gặp bão, thường đến đây nương náu. "Mũi" là cái mũi đất nhô ra biển; "Né" có nghĩa là tránh. Nơi đây có sự hài hòa giữa màu cát vàng màu biển xanh, ấm áp và trong lành, thu hút du khách.
Cũng có tên gọi từ huyền thoại của người Chăm: Công chúa Út của vua Chăm là công chúa Chuột - tương truyền vùng đất này của người Chăm, xưa kia lau sậy mọc um tùm. Công chúa Chăm năm 16 tuổi mắc bệnh nan y, về sau dựng Am để tu tại Hòn Rơm. Từ đó lấy biệt danh là bà Nà Né - lâu dần người dân đọc trại chữ Nà Né thành Mũi Né. Né là tên của công chúa Út - Mũi là mũi đất đưa ra biển.
Tên Hòn Rơm cũng phát xuất từ sự tích: Hòn Rơm là tên một núi nhỏ vẫn còn hoang sơ, nằm tại phường Mũi Né. Núi này có một loại cỏ ống dài khoảng 0,50m; vào mùa nắng lớn, cỏ bị cháy khô, màu vàng. Người dân đi biển ở ngoài khơi nhìn vào ngọn núi thấy dáng khô vàng giống như một đụn rơm khổng lồ, nên mới gọi là Hòn Rơm.
Hòn Rơm có rất nhiều bãi tắm dành riêng cho du khách. Hòn Rơm 1, Hòn Rơm 2 v.v… Nhưng hầu hết các bãi tắm này đều dành riêng cho du khách nội địa; du khách ngoại quốc đều tập trung tại khu resort cao cấp nằm phía trên. Các bãi tắm này hiện nay đang bị ô nhiễm, các quan chức liên quan trong ngành chưa có biện pháp giải quyết, khiến cho khu du lịch này đang dần dần “chết” .
(6). Thác Mai, trang 130 QHQOK tập 10. Nhờ khoa học phát triển nhanh, sự dối trá phổ biến rộng, ai cũng nói dối, nói dối lâu ngày thành nói thật. Mọi người biết là dối nhưng cứ xem như thật. Nếu nói thật thì không giống ai, và khó mà tồn tại.


Sách đã in:
Quê Hương Qua Ống Kính tập 1 đến tập 10, Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng, Mùa Nước Lũ (Truyện), Về Nhiếp Ảnh, Thăng Trầm (chuyện buồn vui một đời người), sách dày trên 200 trang, có 8 phụ bản ảnh màu và cả trăm ảnh đen trắng.


Độc giả muốn có sách xin Liên lạc: Tran Cong Nhung P.O. Box 254 Lawndale, CA 90260.
email:trancongnhung@yahoo.com Website: www.ltcn.net
source
ViễnĐông

Chủ Nhật, 25 tháng 7, 2010

Nhớ thương Khánh Hội



Saturday, July 24, 2010








Nguyễn Ðạt

Trước 30 tháng 4, 1975, người ta thường gọi quận 4 là Khánh Hội. Và nói tới Khánh Hội là nói tới bến cảng Nhà Rồng, nhà thờ Xóm Chiếu cùng bà con xứ đạo miền Bắc di cư, những kênh rạch bến đò, đặc biệt là giới lao động nghèo “tay làm hàm nhai” cơ cực vất vả, hãng sản xuất thuốc lá Bastos lâu đời...


Bến cảng Nhà Rồng. (Hình: Nguyễn Ðạt)

Chúng tôi có một thời tuổi trẻ cư ngụ ở Khánh Hội, để bây giờ, những dịp qua quận 4, lòng dạt dào thương cảm một vùng “cố quận.” Bến cảng Nhà Rồng được lập nên từ khoảng giữa thế kỷ 19, thời Pháp thuộc, do một công ty vận tải đường biển của Pháp xây dựng. Nằm bên sông Sài Gòn, tại khu vực cầu Khánh Hội - thời trước có lúc mang tên là cầu Trình Minh Thế, bến cảng Nhà Rồng lúc đó là thương cảng lớn của Sài Gòn.

Gọi là Nhà Rồng, tòa nhà có nơi ở của Tổng quản lý công ty và chỗ bán vé tàu, vì trên nóc tòa nhà này có gắn hai con rồng bằng đất nung tráng men xanh ở hai bên. Giữa nóc nhà là hình phù hiệu của công ty: đầu ngựa và chiếc mỏ neo.

Nhà thờ Xóm Chiếu. (Hình: Nguyễn Ðạt)
Có người cho rằng, Nhà Rồng có nghĩa là Gia Long, người Pháp đặt như vậy cho tòa nhà trụ sở bến cảng, để nhớ tới quan hệ của vua Gia Long với nước Pháp. Nhà Rồng, sau biến cố 30 tháng 4, 1975 hiển nhiên (...) để trở thành “Bảo tàng Hồ Chí Minh,” còn gọi là “Nhà lưu niệm bác Hồ,” do (...) từ nơi này lên tàu ra đi tìm đường cứu nước. Như vậy Nhà Rồng mặc nhiên đã tách khỏi bến cảng 35 năm nay, trụ sở cảng Nhà Rồng hiện nay đặt ở khu nhà khác của bến cảng, lấy tên là “Cảng Sài Gòn/Cảng Nhà Rồng Khánh Hội.”

Cảng Sài Gòn - Cảng Nhà Rồng Khánh Hội trải dài theo nhánh sông, song song với con đường Trình Minh Thế cũ, nay là đường Nguyễn Tất Thành. Cuối đường Nguyễn Tất Thành, bên này cầu Tân Thuận bắc sang Tân Thuận-Nhà Bè, phía bên phải, đường Tôn Thất Thuyết, cuối cùng của vùng đất Khánh Hội, là một con đường dài dặc, chạy song song một nhánh sông Sài Gòn, với những kho bãi thuở trước còn lưu giữ nhiều dấu vết xưa. Ði trên đường Nguyễn Tất Thành dọc bến cảng, bùi ngùi nhìn ngó cơ sở của công ty Ðường Khánh Hội, tòa nhà cũ kỹ, xuống cấp, có vẻ bỏ hoang, chúng tôi không biết hiện nay còn hoạt động hay đã chuyển tới chỗ nào khác. Hãng thuốc lá Bastos lập nên từ thời Pháp thuộc, trên đường Bến Vân Ðồn, con đường địa đầu của Khánh Hội, đã di dời nơi khác từ vài năm nay, cơ sở cũ vẫn bỏ không. Rẽ phía bên phải, vào đường Xóm Chiếu. Góc đường Xóm Chiếu-Nguyễn Tất Thành là ngôi trường Nguyễn Trãi, một trong những trường trung học công lập danh tiếng của Sài Gòn thuở trước. Chợt nhớ những vị giáo sư khả kính của trường Nguyễn Trãi ngày ấy, nay người thì mất, người ở phương xa tít mù.

Người bạn đi cùng, hỏi tôi: “Bạn có còn nhớ, nhà văn Tạ Quang Khôi từng dạy Việt Văn ở đây?” Tôi gật đầu, bùi ngùi, biết ông định cư ở Mỹ, hiện ông sống như thế nào thì tôi chẳng biết. Chắc hẳn có lúc, cơn gió xứ người cũng hiu hắt se lòng, ông và các thầy dạy khác ngùi nhớ nơi chốn mình hàng ngày đứng trên bục giảng, trước những mái đầu xanh cặm cụi... Nhà thờ Xóm Chiếu tọa lạc vững bền từ năm 1826, trong khuôn viên có diện tích 3 héc-ta, ngôi nhà thờ nhìn ra con đường Xóm Chiếu nhỏ hẹp. Người bạn đi cùng vốn là kiến trúc sư, cho tôi biết ngôi nhà thờ có đỉnh cao 30 mét, diện tích xây dựng 500 m2 này được xây dựng rất đặc biệt, là sự kết hợp giữa hai phong cách kiến trúc Pháp và Nhật Bản. Năm ghi trên tấm biển trước nhà thờ: 1856, là năm thành lập Giáo Xứ Xóm Chiếu, sau khi ngôi nhà thờ đã xây dựng được 30 năm. Chúng tôi đi thăm chợ Xóm Chiếu, một ngôi chợ lâu đời của Khánh Hội, không khỏi buồn lòng vì hiện nay ngôi chợ bị khuất lấp. Ði trên đường Hoàng Diệu, đường phố chính của Khánh Hội, không thể nhìn ra, ngỡ ngôi chợ đã mất tích. Chợ Xóm Chiếu vẫn ở chỗ cũ, ngôi chợ mở ra chung quanh nay bị bó rọ trong tòa nhà lồng chợ, bưng bít như nhà tù.

Phía trước mặt chợ Xóm Chiếu là đường Hoàng Diệu, đường phố duy nhất lớn rộng của Khánh Hội xưa, nay tòa cao ốc to cao ngất trời, trụ sở của Ngân Hàng Ðầu Tư Phát Triển Việt Nam, che khuất hoàn toàn.

Chúng tôi có nhiều kỷ niệm ở con phố này, những lần rủ bạn đi đóng giày “à la mode” đúng điệu ở tiệm giày Gia - Hoàng Diệu, những tối nói chuyện say sưa về văn chương và nghệ thuật thứ 7 với “chàng đạo diễn điện ảnh tương lai” Ðặng Trần Thức, trước thời gian anh du học ngành điện ảnh ở nước ngoài... Tiệm giày Gia ở Khánh Hội, tiệm Trinh' shoes ở Tân Ðịnh, là hai địa chỉ tin cậy, uy tín hàng đầu của giới thanh niên sành điệu Sài Gòn. Sau 30 tháng 4, 1975, hai tiệm giày lừng danh Sài Gòn biến mất. Sau này ở đường Hoàng Diệu có tiệm giày Khánh Hội, cũng là an ủi nỗi niềm hoài xưa.


Chợ Xóm Chiếu. (Hình: Nguyễn Ðạt)

Như nói ở trên, đường Hoàng Diệu là con đường rộng rãi duy nhất thuở trước, nay thì quận 4 có thêm con đường mang tên Khánh Hội, khang trang lớn rộng không kém đường Hoàng Diệu. Thay đổi lớn nhất của Khánh Hội, như câu thơ Tú Xương “Sông kia rày đã lên đồng,” nhiều khu vực sình lầy, ao vũng, kênh rạch,... đã được san lấp để xây dựng nhà cửa đường sá, như khu vực đường Nguyễn Khoái hoang vu xưa, nay trở thành đường phố chỉnh tề. Ðường Ðỗ Thành Nhân, sau này đổi tên là đường Ðoàn Văn Bơ, do bị trận hỏa hoạn lớn, thiêu rụi trọn khu nhà ổ chuột, nay đỡ nhếch nhác với những dãy nhà chung cư cao tầng. Ðường Tôn Ðản, cũng chật chội nhỏ hẹp như đường Ðoàn Văn Bơ, nhưng là một con đường dài dặc, vắt ngang giữa lòng Khánh Hội, nhắc nhở chúng tôi nhiều kỷ niệm. Cũng như ngày trước, sự nhộn nhịp của sinh hoạt dân cư ở đường Tôn Ðản toát lên sức sống mạnh mẽ của người dân lao động. Ðặc biệt thuở trước, đường Tôn Ðản là nơi sản xuất những khung sườn (chassis) để căng “toile” vẽ tranh, chúng tôi thường rủ những người bạn họa sĩ sang đây đặt làm. Bất cứ thanh niên nào ở đâu tới, không phải là dân quận 4 - Khánh Hội, có bộ dạng đặc biệt, bảnh chọe, luôn bị các chàng du đãng Tôn Ðản “hỏi thăm sức khỏe,” thách thức đập lộn tay đôi.


Trường Nguyễn Trãi. (Hình: Nguyễn Ðạt)

Chúng tôi quen thân với Ðiềm Khắc Kim, cư ngụ ở đường Tôn Ðản, một “tướng cướp cô đơn” rất gan dạ, chuyên cướp ngân hàng, ngụy tạo một băng nhóm nhưng sự thật chỉ có một mình Ðiềm Khắc Kim. Cũng vì quen thân Ðiềm Khắc Kim, những người bạn họa sĩ (với bộ dạng nghệ sĩ rất “bắt mắt” các chàng du đãng Tôn Ðản) đi cùng chúng tôi sang Khánh Hội đóng “chassis” không bị “hỏi thăm sức khỏe.” Sau này, trong (...), du đãng Tôn Ðản không thể xuất hiện và tồn tại, vì (...) không cho phép thanh thiếu niên, những “con cháu bác Hồ,” mơ làm người hùng miền Viễn Tây Hoa Kỳ, hảo hán Lương Sơn Bạc Trung Quốc... Chỉ xuất hiện và tồn tại những băng nhóm xã hội đen như Năm Cam, chính Năm Cam và gia đình anh ta cũng cư ngụ ở đường Tôn Ðản. Khánh Hội còn nổi tiếng với nước mắm Liên Thành, hãng sản xuất nước mắm lâu đời nhất tại Sài Gòn, với thứ nước chấm có hương vị thơm ngon đặc sắc, không thua kém nước mắm Phan Thiết hoặc nước mắm Phú Quốc, nay vẫn được đông đảo khách hàng chiếu cố. Lần nào cũng vậy, có việc hoặc sang chơi bên quận 4, chúng tôi không ngăn được nỗi niềm hoài cảm, thương nhớ một thời Khánh Hội. Với chúng tôi, là giấc mơ điện ảnh của người bạn đạo diễn phim “Hè Muộn” đã hình thành tại đây, là bài thơ thuở ban đầu, “Căn nhà miệt Khánh Hội,” cảm nhận từ đây: “...Mái nhà thì đen buồn, tiếng động thì da diết/Con kênh thì nước dâng, ếch nhái kêu la...” Nỗi buồn, nỗi thảng thốt như Tú Xương: “Ðêm nghe tiếng ếch bên tai/Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.”

source

NGUOI-VIET Online

Thứ Tư, 21 tháng 7, 2010

Mùa Thốt Nốt ở... Sài Gòn



Tuesday, July 20, 2010










Văn Lang/Người Việt



Khoảng từ Tháng Giêng cho tới cuối Tháng Tư (Âm lịch), khi tiết trời Sài Gòn còn đang bị “hun” bởi cái nắng như đổ lửa của mùa khô, thì trên hè phố Sài Gòn mấy năm nay xuất hiện những xe đẩy hàng rong bán một loại ‘trái cây lạ’, đó là trái thốt nốt!



Trái thốt nốt được bày bán trong một tiệm giải khát ở Sài Gòn. (Hình: Văn Lang/Người Việt)

Sự thật, khi trái thốt nốt xuất hiện trên hè phố Sài Gòn thì nhiều người cũng chẳng biết đó là trái gì, trừ khi dừng xe hỏi thăm người bán, hoặc người bán khôn khéo tiếp thị bằng một tấm bảng nhỏ ghi “thốt nốt” treo tòn ten nơi đầu xe đấy. Ấy vậy mà khi biết đó là trái thốt nốt thì nhiều người vẫn lầm tưởng đó là... trái dừa nước!

Thốt nốt phiên âm từ tiếng Khmer chỉ cây ‘Thnot’, mà nếu dịch nghĩa ra tiếng Việt lại là cây... dừa nước. Tuy nhiên cây thốt nốt của người Khmer và cây dừa nước của người Việt là hai cây khác nhau, tuy cùng là họ dừa và có cùi (cơm) khá giống nhau...

Trước kia, khi có dịp tiếp xúc với một số bà con Việt kiều bị bắt buộc phải hồi hương về Việt Nam từ năm 1970 khi chính quyền Lon-Non thực hiện chính sách “cáp-duồn” và xua đuổi người Việt sinh sống tại Cambodia, tuy về nước đã lâu nhưng những người Việt kiều này vẫn nhớ không khí thanh bình, trù phú của xứ sở Chùa Tháp thời trước khi Lon-Non đảo chánh và hình ảnh cây thốt nốt chính là biểu tượng của sự thanh bình ấm no đó.


Bán trái thốt nốt trên đường phố Sài Gòn. (Hình: Văn Lang/Người Việt)

Với nhiều người, nói tới cây thốt nốt là nói tới xứ chùa tháp, hay chí ít cũng là những vùng biên giới Việt Nam-Cambodia, như là vùng Thất Sơn, An Giang chẳng hạn.

Nhưng vì đã mấy lần nhìn thấy trái thốt nốt bày bán trên hè phố Sài Gòn, qua mấy mùa cũng quen mắt, để rồi một hôm tình cờ ghé thăm lăng của Tả Quân Lê Văn Duyệt nhìn lên hàng cây cao như cây dừa, lá như lá cọ, thấy những chùm trái chín màu tím như màu trái vú sữa, giật mình vì thấy những trái này quen lắm.

Cây thốt nốt bên trong lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt. (Hình: Văn Lang/Người Việt)
Hỏi thăm một bác lớn tuổi cũng đang đi viếng lăng của Tả Quân, bác cười, mà rằng, ‘Trái thốt nốt chớ trái gì !” Ôi, trời ơi! Vậy là chúng tôi đã nhìn thấy cây thốt nốt mà bao lần nghe người ta kể, lại là ngay giữa Sài Gòn, trong lăng của Tả Quân, nơi mà không ít lần chúng tôi đã viếng thăm và chụp hình, nhưng thường là chúng tôi tới thăm lăng vào đêm Giao Thừa cuối năm nên không có dịp nhìn thấy hàng cây thốt nốt trong lăng Tả quân đã có từ đời nảo, đời nào&

Lật tìm những tư liệu xưa về cây thốt nốt ở Sài Gòn, chúng tôi thấy trong cuốn sách “Sài Gòn Tạp Pí Lù” của nhà sưu tầm, nghiên cứu và học giả Vương Hồng Sển, trong phần cây trồng hai bên đường, ông cho biết ở Gia Ðịnh (xưa) có đường gọi thốt nốt vì trồng loại cây này.

Ông còn viết thêm “Những cây nơi đường gần chợ Bà Chiểu và cây nơi trước sân miếu Tả Quân, có từ đời nào, duy biết trồng thốt nốt chung quanh miếu là một ý kiến hay, vì Tả Quân từng nhiều phen che chở bảo hộ vua Miên và biết đất Miên rất nhiều”.

Cũng nhân tìm hiểu về cây thốt nốt ở Sài Gòn, chúng tôi mới biết thốt nốt ở Sài Gòn có tới hai, ba “trào lưu” chứ không chỉ một như thời Gia Ðịnh xưa. Cùng thời với những cây thốt nốt ở khu vực Lăng Ông - Bà Chiểu là mấy cây thốt nốt ở khu vực gần bệnh viện Nhân Dân Gia Ðịnh (bệnh viện Nguyễn Văn Học cũ). Sau khoảng những năm 90 của thế kỷ trước, khi quân “tình nguyện” Việt Nam rút khỏi đất nước chùa tháp, có một người lính Việt Nam đã đem một cây thốt nốt về trồng tại khu vực gần ga xe lửa Sài Gòn. Và trong những năm gần đây, có một nữ doanh nhân Việt kiều (Mỹ), đã đem một số cây thốt nốt từ Cambodia về trồng trang trí trong một quán cà-phê khá lớn của nữ chủ nhân nằm trên đường Nguyễn Ðình Chiểu, quận 3.

Với những Việt kiều đã từng sinh sống ở Cambodia cũng như những người lính đã từng có mặt ở Cambodia thì nói tới cây thốt nốt là nói tới thứ nước mật thơm ngọt ngào của cây thốt nốt và loại “bia” được lên men từ loại cây này mà người Khmer gọi là ‘Tuk-Thnot-Chu.’

Tại vùng Thất Sơn, Tri Tôn, An Giang, cây thốt nốt được trồng nhiều như những cánh rừng, từ đây đường thốt nốt đã được làm ra và xuất cảng đi Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ðài Loan... Thị trường trong nước thì đường thốt nốt bán ra tới Hà Nội, còn trái thốt nốt thì chẳng những theo xe đò có mặt ở Sài Gòn mà còn ra tới mấy chợ ở miền Trung.

Cây thốt nốt thuộc họ dừa, về phần công dụng hữu ích thì cả cây dừa nước và cây dừa cộng lại cũng không bằng. Lá thốt nốt dùng để lợp nhà (như lá dừa nước), thân thốt nốt dùng làm cột cả trăm năm không sợ mối mọt, ngoài trái và mật thơm ngon thì lá thốt nốt còn dùng để vẽ tranh trên đó (tranh vẽ trên lá thốt nốt của An Giang được nhiều du khách ưa chuộng), hơn nữa lá thốt nốt còn để chép kinh Phật. Một số ngôi chùa Khmer tại miền Tây còn lưu giữ những bộ kinh Phật chép trên lá thốt nốt có từ hơn hai trăm năm nay vẫn không hề bị mối mọt làm hư hại.

Chính vì những đặc tính đặc biệt của cây thốt nốt mà gần đây tại An Giang đã xuất hiện một xưởng chuyên làm tủ, bàn, ghế mỹ nghệ bằng gỗ từ thân cây thốt nốt, mặt hàng này được giới nhà giàu mới ở miền Tây và Sài Gòn rất ưa dùng.

Trong bối cảnh kinh tế suy thoái, việc xuất cảng đường thốt nốt ra thị trường ngoại quốc gặp khó khăn do vậy đường thốt nốt bị rớt giá, nhiều người dân An Giang có khuynh hướng chặt bán cây thốt nốt cho mấy xưởng làm tủ bàn ghế để thu ‘tiền tươi’, mỗi thân cây như vậy bán được khoảng từ ba trăm ngàn tới bốn trăm ngàn đồng Việt Nam.

Ðiều đáng nói là việc trồng cây thốt nốt từ nhỏ cho tới ngày ra trái phải mất từ 15 năm tới 20 năm mới cho vụ thu hoạch đầu, nhưng cho tới khi 100 tuổi thì cây thốt nốt vẫn cho trái và cho mật đều đều rất nhiều, chính vì vậy mà cho tới nay nhiều vị bô lão ở cả Sài Gòn và An Giang vẫn không xác định được tuổi thọ của cây thốt nốt là bao nhiêu năm.

Trong khi xưởng tủ bàn ghế mỹ nghệ chỉ mua những thân cây thốt nốt có niên đại từ vài chục năm trở lên, tức là những cây đang cho thu hoạch mật và trái. Nếu như việc sản xuất tủ bàn ghế mỹ nghệ từ thân cây thốt nốt trở thành thịnh hành trên toàn quốc cũng như xuất đi thị trường ngoại quốc thì có lẽ những rừng thốt nốt ở An Giang - biểu tượng của sự thanh bình và trù phú sẽ không còn nữa.

Thật buồn, nếu như những buổi chiều có dịp đi qua vùng biên giới thấy vắng bóng những cây thốt nốt xa xa trên những cánh đồng lúa xanh. Nơi những hàng cây mà những chàng trai, cô gái người Việt và người gốc Cambodia đã từng hẹn hò trong những buổi tà huy, trong tiếng chuông chiều trầm buông từ những mái chùa Khmer cong vút, tiếng xe bò (cộ) lộc cộc, lộc cộc lăn về nơi xa ngái...

source

Người Việt