Thứ Tư, 2 tháng 12, 2009

Sài Gòn giỗ Tổ


Sài Gòn giỗ Tổ
Cập nhật lúc 1:51:02 AM - 21/12/2008

190-h2-w.jpgBài và ảnh: Trần Công Nhung

Đối với dân tộc Việt Nam ngày lễ lớn hàng năm là ngày giỗ Quốc Tổ, ngày 10 tháng 3 âm lịch. Xưa nay ai cũng thuộc câu truyền miệng:

Dù ai đi ngược về xuôi,

Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba.

[Mâm quả cúng Tổ]


Năm nay tôi dự lễ giỗ Quốc Tổ ngay tại Sài Gòn. Đúng ra, về Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh mới phải, trong ngày hội lớn này, con dân cả nước ai có điều kiện cũng muốn về thắp nhang nơi đất Tổ (1). Lễ tại các địa phương, chỉ làm theo thông lệ chứ không qui mô bằng. Báo đưa tin, Sài Gòn sẽ tổ chức giỗ Tổ lớn nhiều nơi: Thảo Cầm Viên, Văn Hóa Du Lịch Suối Tiên, Đầm Sen...

Hẹn với vài bạn ảnh địa phương, 6 giờ sáng tôi đã đến cổng sở thú. Mùa hè ngày dậy sớm hơn, đi sớm không kẹt xe, đỡ bụi bặm. Cổng Thảo Cầm Viên hôm nay được trang trí đơn giản theo cổng vòm: Lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương. Dọc đường Thống Nhất có treo một số áp phích (Poster) nội dung tương tự.

Đền Hùng Thảo Cầm Viên ngay bên phải cổng vào, đối diện “Nhà Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam”. Đền có trước 75. Ban tổ chức đang thiết trí giàn Kiệu, một đường thảm đỏ trải từ nhà Bảo Tàng qua Đền, trên Đền cũng nhộn nhịp chuẩn bị nghi lễ. Đặc biệt lễ vật cúng Tổ là mâm quả kết theo hình thú Tứ Linh (Long Lân Qui Phượng) xếp hai hàng dài trước sân Đền. Đây là môn nghệ thuật dân gian đặc biệt của Việt Nam. Nghệ nhân dùng toàn quả hạt, củ và lá để kết thành hình thú. Hàng năm khu Du Lịch Suối Tiên có tổ chức cuộc thi loại hình nghệ thuật này, và các nghệ nhân vùng Hóc Môn đã đoạt nhiều giải lớn. Mấy năm trước khi đi thăm làng mây tre Hóc Môn, tôi đã ghé xem một vài nhà sống nghề kết thú. Hoàn toàn do bàn tay khéo léo và óc nhận xét tinh tế, các nghệ nhân (phần nhiều các cô còn trẻ) dùng hoa, quả, lá, chồi, từ cây trong vườn hoặc đặt mua, kết thành những con thú quen thuộc trong lễ hội truyền thống: Rồng, Phượng, Lân, Rùa, Hạc, v.v.. Có những nghề gọi là thủ công sự thực vẫn dùng máy một vài công đoạn, riêng nghề thú hoa quả chính danh là “thủ công”. Tác phẩm tuy không giữ lâu nhưng môn nghệ thuật mới này cũng đáng được tưởng thưởng để khuyến khích những người có bàn tay khéo léo.

190-h1-w.jpg

[Lễ Giỗ Quốc Tổ]

Trong khi đang vắng người, tôi ghi vội một số hình ảnh, lúc người dự lễ tràn vào thì khó mà được những tấm ảnh nguyên vẹn. Điểm qua một vài mâm quả đặc biệt: Mâm Du Lịch Văn Hóa Suối Tiên: Hai Rồng lớn trong thế Long Giáng, mâm Công Ty Công Viên Cây Xanh: Kỳ Lân đang múa, mâm của Ngân Hàng Công Thương VN: Ba Rồng một đuôi... và nhiều nhiều nữa của các đoàn thể dâng cúng Quốc Tổ. Nét độc đáo chung là sự chọn lựa tài tình các loại quả, hạt, phù hợp với các bộ phận của Tứ Linh. Vảy Lân bằng quả cau kiểng xanh, tỏi làm răng, tai thơm làm râu bờm... các loại quả cà chua, cam, tắc, thanh long, ớt đỏ... được sử dụng cách khéo léo cho từng bộ phận của Linh Vật. Mâm quả nào cũng rực rỡ màu sắc, có nhiều mâm dùng hệ thống điện làm cho hình thú cử động rất ý nghĩa.

Nhìn qua nhà bảo tàng các cô thiếu nữ trẻ trong ban nghi lễ, lăng xăng trang điểm, kẻ ngồi người đứng, cười đùa, không khí buổi lễ tươi tắn hấp dẫn hẳn lên. Dưới chiếc khăn vành với áo tứ thân, hay áo dài tha thướt, họ trở thành người mẫu cho bao nhiêu tay ảnh đi tìm chân dung. Nhiều chân dung đẹp hồn nhiên, khác xa với chân dung trong studio, mỗi cô một vẻ, nét vui buồn, trầm lắng, hiện lên rõ ràng. Đã cầm máy (ảnh), đã từng săn tìm (ảnh), trong những dịp hội hè lễ lạc, ai mà không hăng say “sáng tác”. Về phía người đẹp cũng không dấu được nụ cười trong ánh mắt khi biết ống kính đang hướng về mình. Tôi thấy ngày nay trong chốn hội hè đình đám các cô thiếu nữ có phần tự nhiên hơn trước kia, họ không quá e thẹn hay điệu dáng nên cũng dễ lấy ảnh.

Những cô trong trang phục cổ truyền Kinh Thượng ba miền, loay hoay sắp đặt mâm lễ vật, nhang đèn, bánh chưng bánh dày chung quanh giàn Kiệu. Các chàng trai trang phục lính thú, trên tay một cán cờ đuôi nheo màu đỏ rực. Mấy bô lão, áo thụng xanh, một đoàn phụ nữ áo lễ màu vàng. Chốc chốc anh thủ máy quay truyền hình phải kêu to để người xem không đi vào tầm ống kính. Cảnh càng lúc càng náo hoạt, người dự lễ đã đông nghẹt hai bên lối lên Đền.

Giờ làm lễ bắt đầu. Kiệu di chuyển chầm chậm qua Đền. Dẫn đầu là chiêng trống, chiêng bên trái, trống bên phải, hai bô lão cầm dùi, cứ ba tiếng trống một tiếng chiêng. Lâu lâu dặm hai hoặc ba tiếng chiêng. Theo sau chiêng trống là đoàn cờ đuôi nheo, tiếp đến hai lọng và Kiệu. Sau cùng là đoàn phụ nữ y phục gấm vàng, đầu đội khăn vành, tay bê lễ vật. Đám rước tuy đơn giản nhưng không kém phần trang trọng ý nghĩa.

Kiệu đi qua, người xem nhốn nháo chen nhau chồm ra nhìn, chụp ảnh quay phim hoạt động rộn ràng. Cuộc rước Kiệu kết thúc khi đoàn rước lên Đền làm lễ dâng hương. Bấy giờ hai đoàn nam nữ tháp tùng dàn ra hai bên bậc tam cấp. Lễ niệm hương, rồi diễn văn của ban tổ chức.

Giỗ Tổ tất nhiên con cháu có bổn phận tấu trình công trạng sự nghiệp lên Quốc Tổ. Các Vua Hùng hẳn đã hãnh diện về con cháu hôm nay. Qua 4000 năm hy sinh bao nhiêu xương máu, chống ngoại xâm lẫn chém giết nhau (Trịnh Nguyễn...), đất nước mới được như hôm nay. Nhưng khi nghe đến “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào...” liệu các Vua Hùng có hiểu? Nếu các Vua Hùng thấy “Phó TT. VNCH” đang bàn chuyện làm ăn ở Sài Gòn, Hà Nội, thấy cờ Mỹ tung bay trên đường Láng Hạ (Hà Nội) hay trên đường Lê Duẩn (Sài Gòn), liệu Tổ có thắc mắc chăng. Tôi nghĩ, nếu Tổ đặt câu hỏi: “Tại sao...”, sẽ có người trả lời: “Chuyện bình thường”.

Phần cuối buổi lễ là tiếng trống cúng Tổ và tấu lên Thiên Đình. Với tôi đây là bài diễn văn hùng hồn nhất, súc tích nhất, lôi cuốn nhất và cảm động nhất. Tôi đã nhiều lần dự lễ tại Đền Hùng Phú Thọ nhưng chưa được xem buổi diễn trống nào như hôm nay.

Trước hiên Đền một giàn trống: Một trống đại, ba trống vừa, một trống đồng, một đàn đá, và một tù và.

Thoạt tiên, ba hồi trống đại nổi lên như dạo khúc mở đầu... Tiếng trống nhịp ba... nhịp năm, càng lúc càng mạnh... rồi đổ hồi, âm vang từng đợt truyền qua rừng cây quanh Đền.... Bỗng tiếng trống đại nổi lên ầm ầm như sấm dậy. Tiếp theo là tiếng trống vừa phụ họa, tiếng đàn đá như than, âm thanh thở dài của tù và, tiếng trống đồng thật ấm rền rền như dư âm vang vọng của những trang sử oai hùng mấy nghìn năm qua.... Tất cả hòa tấu nên khúc nhạc tế lễ thật đặc biệt.

Các nghệ nhân luôn trong thế “trung bình tấn” của nhà võ, hai dùi trống trên tay múa liên tục khi nhặt khi khoan. Đặc biệt anh trống đại diễn tấu trong nhiều thế khác nhau tùy nhịp, tùy cường độ, lúc anh dạng hai chân, lúc chân sau chân trước, có lúc quì hẳn xuống, hai tay anh múa dùi thật nguyễn, tiếng trống của anh khiến người nghe vừa hồi hộp vừa hăng say như người lính xông trận, tiếng trống sôi sục dồn dập, thôi thúc hùng tráng... rồi trở lại êm đềm, bình thường như trời sau cơn dông... Tôi mơ hồ cảm nhận trong tiếng trống như có lời kể lễ ta thán, có lời trình tấu van xin, tiếng trống đắng cay của nhân gian gióng lên Thiên Đình... Bài trống tiếp tục luân chuyển nhịp điệu và cường độ, có lúc ầm vang như tiếng hò reo của ba quân ngoài trận địa. Người nghe tưởng chừng bị cuốn theo, lòng trào dâng hùng khí. Trong khoảnh khắc hào hùng ấy nếu có một tiếng hô, tôi tin mọi người sẽ tiến lên.... Cả một không gian đang rền vang âm thanh của các loại trống, trống đồng tuy chỉ một nhưng người nghe vẫn nhận ra âm sắc đằm thắm, chững chạc, và ngân xa. Tiếng đàn gõ, tiếng tù và phụ họa tạo nên bản hùng ca bi tráng... Rồi cả “bầu trời sấm sét” dịu dần dịu dần, tiếng trống bây giờ êm êm và đều đều như tiếng kinh cầu, mọi người đang bừng bừng khí thế sực tỉnh quay lại mình. Ai nấy như trầm ngâm trong phút tưởng nhớ tiền nhân, những anh hùng đã xả thân cho tổ quốc, những oan khiên bao lớp người đi trước phải gánh chịu cho quê hương sống còn. Tôi không nhớ bài trống kéo dài bao lâu nhưng bấy nhiêu âm thanh không lời mà có sức thu hút kỳ lạ. Không những thế tiếng trống đã thực sự dẫn dắt người nghe vượt qua quãng thời gian dài 4000 năm lịch sử để ngậm ngùi, để hưng phấn, để xót thương, để tự hào về đất nước mình. Và, điều rõ nét là tiếng trống giỗ tổ hôm nay đã truyền cho mọi người niềm tin bất diệt, niềm tin dân tộc Việt vẫn tràn đầy hùng khí, đất Việt sẽ lớn mạnh và trường tồn.

190-h3-w.jpg

[Kiệu qua Đền]

Tôi không còn thấy những màu sắc hào nhoáng của lễ hội, tôi không nghe không nhớ gì ngoài tiếng trống, tiếng trống đã cuốn chìm tôi trong nguồn cảm xúc lạ lùng. Cảm ơn các nghệ sĩ trong buổi lễ hôm nay.

Rất tiếc, tôi không là nhạc sĩ, không có đủ khả năng để thể hiện cảm xúc của mình trong lúc này thành bài ca xiển dương sự hy sinh của tiền nhân. Tôi cảm động và ngẩn ngơ khi tiếng trống chấm dứt trên Đền.

Mọi người ra về, tôi chạy đến chân Đền xin mấy anh trật tự cho lên gặp những người trong ban nhạc trống để hỏi đôi điều và gửi một lời tán thưởng. “Lệnh không cho ai lên Đền để giữ vẻ nghiêm trang”, lời của anh công an áo xanh. Năn nỉ mãi không được, tôi nói: “Anh nhìn lên Đền xem, mấy đứa nhỏ chạy tung tăng, mấy cô gái ăn mặc hở hang đang ăn uống nhồm nhoàm, thế là nghiêm trang sao?”. Họ nhìn tôi sượng sùng không nói gì.

Và, tôi đành kêu vói lên: “Thưa anh, tôi muốn gặp anh một tí được không?”. “Người nghệ sĩ trống”, vui vẻ bước xuống tam cấp, trông anh không còn tuổi thanh niên nhưng người vạm vỡ, anh nhìn tôi cười:

- Anh hỏi việc gì?

- Tôi vừa theo dõi buổi diễn trống của các anh, tôi hết lòng khâm phục và thích thú vô cùng. Tôi muốn hỏi thêm vài điều chưa rõ.

- Anh cứ hỏi.

- Tôi đã nhiều lần dự lễ giỗ Tổ, nhưng đây là lần đầu được nghe bài trống thật hấp dẫn. Anh vui lòng cho biết nội dung bài trống.

Người nghệ sĩ có thân hình rất thể thao nhìn tôi cười như dò xét, tôi hiểu ý, giải thích về công việc của mình. Anh vui vẻ cho biết:

- Bài trống này phối hợp giữa tiếng trống trận Quang Trung và tiếng trống Ngũ Lôi.

- Anh có thể nói rõ về tiếng trống Ngũ Lôi, tôi chưa từng nghe bao giờ.

- Tiếng trống Ngũ Lôi có nghĩa là năm tiếng sấm tế trời đất để cầu mưa thuận gió hòa, cầu quốc thái dân an. Người miền đồng bằng gọi là trống sét, người miền núi gọi trống sấm. Trống được bịt hai mặt bằng da trâu đực và cái. Bình thường trống chỉ đánh một mặt. Ngày lễ lớn được phép đánh cả hai mặt. Tang trống miền xuôi do nhiều thanh gỗ ghép lại, tang trống miền núi đục từ một thân cây lớn, như thuyền độc mộc.

- Thưa anh, trống đồng là trống thời cổ hay mới đúc?

- Trống cổ, giá trị của tiếng trống đồng khác nhau ở thời gian, không gian và tinh thần.

- Bài trống này là do người xưa để lại?

- Không, chúng tôi chỉ dựa vào phần chính rồi sáng tác thêm cho phù hợp với ngày nay.

- Hay thế mà ít ai biết, các anh ở trong ban nhạc văn hóa thành phố?

- Chúng tôi là nhóm trống Phù Đổng, chúng tôi đã từng đi biểu diễn trên 30 quốc gia, Đức Dậu trưởng nhóm, Mạnh Hùng, Mạnh Tuấn, Thu Hiền và tôi là Quang.

Tôi cảm ơn người nghệ sĩ trống, chụp với các anh mấy tấm hình kỷ niệm. Buổi lễ không “hoành tráng” bao nhiêu, nhưng tôi đã có những giây phút thú vị và xúc động thật sự, những phút giây lịch sử hào hùng qua tiếng trống Quang Trung và tiếng trống Ngũ Lôi.

Trần Công Nhung

4 - 2008

(1) Đền Hùng Phú Thọ (QHQOK 3 và 6)

******************************************

source

Vien Dong Daily

“Vắng như chùa Bà Đanh” (Kỳ 2)


Cập nhật lúc 11:29:00 AM - 13/12/2008

189-ha_SFW.jpgBài và ảnh: Trần Công Nhung

Chạy hết khúc quanh theo đúng như lời bác nông phu, có bảng chỉ lối rẽ vào chùa. Con đường rải đá dăm xuyên qua rừng nhãn sum suê chừng vài trăm mét. Cuối đường là bờ sông, cổng chùa ngay bên trái.

[Chùa Bà Đanh]


Cổng chùa là một tiền đình nhìn ra sông, ba gian ba cửa ván rộng, mái mũi hài đơn giản hai tầng, không hoa văn rồng phượng. Hai bên có hai cửa phụ nhỏ hơn cũng hai tầng tám mái. Tất cả các cửa đều đóng kín. Nét cổ mấy trăm năm thấy rõ, riêng tường thành bao quanh nhiều chỗ đã xây lại. Cây hoa đại cổ thụ trước cổng chùa, gốc đã đổ nghiêng, khoảng trống trước chùa cách bờ sông Đáy vài chục mét, đủ chỗ cho một ngày hội vài trăm người. Nhưng chùa Bà Đanh thì chẳng phải lo chuyện đông người.

Bên kia sông Đáy là Ngũ Động Sơn, còn gọi Núi Cấm, dãy núi như bức trường thành, một vùng sông núi âm u vắng lặng, trời không bóng chim, sông không bóng thuyền, cảnh tịch liêu. Tôi hiểu phần nào ý nghĩa tên ngôi chùa.

Đang tìm xem vào chùa bằng lối nào thì có một tốp thanh niên đi ra phía cuối tường. Hỏi, họ bảo đi tuốt vào trong. Đám nam nữ, một xe hai người, ăn nói bô bô lấc cấc, không có vẻ gì là học sinh đi ngoạn cảnh. Tôi dựng xe khóa hẳn hoi, chờ cho đám choai choai đi hẳn mới vào chùa. Đây là lối riêng ra sau mấy gian nhà phụ. Ngôi chánh điện phía trái đã tháo dở hoàn toàn. Một đám thợ đang hì hục cưa, đục dưới lều bạt căng tạm. Vừa lúc một bà sãi bước ra tôi xin phép vào thăm và chụp vài tấm hình. Nghe vậy bà lên tiếng ngay:

- Ông vào cúng xin phép Thánh trước đã, không là bị Thánh quở đấy. (5)

Tôi theo bà thầy vào ngôi nhà nhỏ ba gian bày biện tượng thờ chật kín. Gian giữa tượng Phật tượng Thánh hàng hàng lớp lớp từ trên cao xuống dần. Một án thờ lớn phía trước dành thờ Bà Chúa Đanh tức Thần Pháp Vũ. Gian trái thờ các Tổ trụ trì. Gian phải thờ Thánh, bàn thờ nào cũng đặt một “Hòm công đức” to tướng, rất khó coi (6). Cũng tương tự các chùa đền khác, hầu hết tượng đều sơn son thếp vàng, râu ria áo mão, khó mà phân biệt ngôi thứ danh vị.

189-hb_SFW.jpg

[Tượng Thần Pháp Vũ (Bà Đanh)]

Bà thầy đốt cho tôi mấy cây nhang, tôi đặt tiền cúng vào đĩa con để sẵn trên bàn thờ rồi khấn xin về công việc của mình. Chỉ một phút tôi quay ra hỏi vị chủ chùa:

- Thưa tại sao người ta thường nói: “Vắng như chùa Bà Đanh”?

- Chuyện là thế này: Ngày trước đây là thôn Đanh, rừng núi cheo leo, người ít thú nhiều, đời sống cơ cực, bệnh dịch thiên tai, sau có một vị nữ thánh hiện xuống cứu độ dân chúng, giúp cho mưa thuận gió hòa, để nhớ ơn, dân lập miếu thờ Bà. Từ đó có tên chùa Bà Đanh.(7)

Tôi ngờ chuyện chùa Bà Đanh không chỉ tóm tắt đơn giản như vậy nhưng thấy bà thầy muốn cho qua nên xin phép đi loanh quanh chụp ảnh.

Chánh điện chỉ còn khung sườn trống rỗng, tất cả dời về nhà Tổ nơi tôi vừa cúng hương. Trong không gian u tịch, tiếng dùi đục nghe chan chát. Nhóm thợ mộc cắm cúi đục đẽo chạm trổ, làm lại những phần lâu ngày bị mối mọt. Ngổn ngang cây gỗ từ trong ra ngoài. Thợ phần lớn còn trẻ có cả nữ, trong Nam hiếm thấy phụ nữ làm nghề mộc. Lần về chợ quê Sơn Vi (8), tôi cũng gặp một cô thợ chạm, tay dùi tay đục mà nhan sắc đậm đà tuyệt đẹp, vẻ đẹp lành mạnh trong sáng, gái thị thành khó sánh kịp. Tôi hỏi thăm bác thợ cả:

- Thưa bác, đây là thợ ở đâu về làm?

- Hà Tây.

Tôi cũng đoán thế, Hà Tây xưa nay nổi tiếng về các nghề thủ công. Ngôi nhà cổ (9) trong Thanh Hóa cũng do thợ Hà Tây vào làm.

- Bao giờ thì hoàn thành hả bác?

- Cũng phải sang năm, còn tùy ngân khoản nữa.

- Tôn tạo là do tiền nhà chùa hay ai tài trợ?

- Nghe nói nhà nước đầu tư trên chục tỉ.

Trong những năm gần đây chính quyền có chủ trương tôn tạo phục dựng nhiều đền chùa di tích, điều đáng mừng, song không hiểu sao còn rất nhiều lệch lạc cộc kệch. Những di tích mang ý nghĩa lớn về văn hóa lịch sử rất cần chăm sóc thì lại gần như lãng quên hoang phế rất đau lòng (10). Chùa Bà Đanh theo như bác thợ mô tả thì khi hoàn thành sẽ là ngôi chùa “hoành tráng”, thập phương bá tánh sẽ tấp nập đổ về. Chùa được ưu thế nằm bên hữu ngạn sông Đáy, sơn thủy hữu tình lại là nơi thanh vắng xa khu cư dân. Nếu lùi lại mươi thế kỷ thì quả thực nơi nầy chẳng ai dám đến. “Vắng như chùa Bà Đanh” là phải. Chỉ sợ một khi chùa trở thành tự viện nguy nga mà cũng là trung tâm mua bán thì chúng ta đã trần tục hóa cửa Thiền. Thực tế cho thấy nhiều di tích tôn tạo chỉ là cách sơn phết hào nhoáng để câu khách du lịch. Tôi có dịp tâm sự với nhiều anh em hiểu biết trong giới văn học nghệ thuật thì đa số cho rằng “tất cả đều lấy danh nghĩa bảo tồn bảo tàng để kinh doanh trục lợi (nôm na là buôn thần bán thánh) (11).

Đã hiểu được phần nào ngôi chùa có tiếng xưa nay, tôi quay ra ghé thăm Núi Ngọc. Núi Ngọc nằm bên phải ngoài đầu lối vào chùa, sát mé sông. Cạnh núi có ngôi miếu nhỏ, cửa ván kín mít chẳng biết gì bên trong, chung quanh cây cỏ um tùm. Trên vách một cáo thị viết vôi trắng ngăn cấm xâm phạm di tích. Núi Ngọc là một đụn đá cao phủ cây xanh. Có cây si (nghe nói) 1000 năm tuổi, trông không có vẻ đại thụ, gốc nhiều chi tủa xuống hơi lạ, ngoài ra toàn cây hoang bụi rậm. Núi Ngọc không phải là nơi cho du khách leo trèo như núi Hàm Rồng (Thanh Hóa) hay núi Rồng ở Sapa.

189-hc_SFW.jpg

[Quanh chùa Bà Đanh]

Người mình thường tự hào con Rồng cháu Tiên nên quê hương nơi nào cũng địa linh nhân kiệt, nơi nào cũng ao Tiên, núi Ngọc, hang Rồng. Nhiều nơi lập danh mục các khu di tích du lịch nghe kêu như chuông đồng, thực tế quá tầm thường ngoại trừ tên gọi, có đi mới biết. Nói vậy nhưng vẻ đẹp của quê hương bàng bạc mọi miền, nhiều nơi không được VHTT công nhận nhưng không vì thế mà kém rung cảm lòng người. Đến chùa Bà Đanh được cái thú là ngoạn cảnh dọc đường, cảnh đồng quê ngày mùa, tuy đất nước đã “điện khí hóa, công nghệ hóa, hiện đại hóa...” nhưng đời sống mộc mạc, chân lấm tay bùn vẫn còn nguyên, điều làm tôi thấy gần gũi với quê hương hơn là cảnh nhốn nháo thị thành.

Dọc đường Bắc Nam còn nhiều cảnh trí đa dạng phong phú hơn, chiều tà miền sơn cước, hay bình minh vùng biển làng chài đều là cảnh đậm đà tình tự nếu chúng ta đã có một thời gắn bó với quê hương. Càng đi tôi càng có nhiều hứng thú, nhiều khám phá bất ngờ. Chính lẽ đó tôi luôn luôn thấy mới mẻ và không hề mệt mỏi trong mọi cuộc hành trình, những cuộc hành trình mà nhiều năm trước tôi không nghĩ là mình có cơ hội thực hiện được. (12)

Trần Công Nhung

6 - 2008

(5) Câu nói như một hăm dọa tống tiền, cửa Thiền không nên mặc cả cách trắng trợn như vậy.

(6) Hầu hết các chùa đền miền Bắc ngoài thờ Phật, còn thờ các Thánh, Mẫu và nặng vấn đề công đức và dung dưỡng những việc làm khó coi như để du khách dắt tiền lên tay tượng Phật Thánh, có ý bảo “Con trao tận tay Thánh, Thánh ban phước cho con”. Tiền cúng lại là thứ tiền trên thực tế không ai dùng: Giấy bạc 200 đồng. Nhưng con buôn vẫn có tiền mới nguyên “lóc” bán lại cho khách. Không lí ngân hàng nhà nước tiếp tay vào việc này!

(7) Chùa Bà Đanh ở xã Ngọc Sơn huyện Kim Bảng, cách thị xã Phủ Lý 10km, nằm ở phía tả ngạn sông Đáy, có diện tích khoảng 10ha. Tương truyền chùa có từ thế kỷ thứ 7, ban đầu nơi đây là một ngôi đền nhỏ thờ Tứ Pháp: Pháp Vũ (Thần Mưa), Pháp Lôi (Thần Sấm), Pháp Phong (Thần Gió). Về sau dân làng Đanh Xá (xã Ngọc Sơn bây giờ) rước chân nhang từ chùa Phúc Nghiêm về ngôi đền làng mình và chỉ thờ Pháp Vũ để cầu mưa. Đến đời Lê Hy Tông (1675-1705) đền được xây dựng lại to đẹp, khang trang hơn. Rồi rước tượng Phật về thờ chung. Từ đó có tên chùa Bà Đanh.

(8) Chợ quê Sơn Vi (QHQOK 8)

(9) Đọc “Quanh thành nhà Hồ” ( QHQOK 6)

(10) Khu lưu niệm Nguyễn Du nếu không có bài thơ Vương Trọng thì giờ này chẳng hơn gì mộ Đạm Tiên (QHQOK 3). Ao Huê Trại Ổi, mộ Nguyễn Trãi (làng Nhị Khê, Thường Tín), nhà thờ Nguyễn Biểu (Đức Thọ, Hà Tĩnh), thấy mà ngao ngán “lời nói việc làm” của người đời.

(11) Riêng hệ thống tự viện dòng Trúc Lâm do Hòa Thượng Thích Thanh Từ chủ xướng thì không có chuyện “hòm công đức” hay “donation” trong Thiền Viện.

(12) Đọc “Tản mạn đường xa”

********************************

source

Vien Dong Daily

Tản mạn đường xa (kỳ 2)



Cập nhật lúc 1:15:30 PM - 02/11/2008

184-tm1w.jpgBài và ảnh: Trần Công Nhung

Nhiều bạn đọc thắc mắc sao tôi dám lang thang một mình mà không đi với ai. Thực tình cũng muốn có bạn để chia sẻ, để giúp nhau những khi bất trắc dọc đường, nhưng, không phải muốn mà được.

[Quanh co lối đèo]


Lâu lâu mới có một chuyến như lần đi Chợ Tình Khâu Vai (1), hay mới đây đi chụp cừu và đồi cát Phan Rang, đi Gò Công chụp cảnh cào nghêu... Kỳ dư một mình một ngựa. Nhiều di tích rất ý nghĩa nhưng không (hoặc chưa) được qui hoạch vào các Tours du lịch thì đường đi chẳng đơn giản tí nào. Mình phải chịu khó mò mẫm, dò đường từng chặng, đôi khi rất mất thì giờ và khá vất vả.

Đi một mình tất nhiên nhiều điều bất lợi nhưng lại cũng là dịp cho mình được tự do thưởng thức những gì gặp gỡ trên đường, không phải cấn cái người đi cùng, không phải mất thì giờ chờ đợi bạn. Có những lúc mình cần dừng lâu để ghi chép và ghi hình, nếu đi với người không cùng sở thích cũng là một trở ngại. Đã có lần đi với một bạn về Điện Biên, trong khi tôi say sưa trước cảnh khói rạ trắng đồng thì anh bạn tỏ ra chán nản, tự nhiên hứng thú cũng vơi đi. Một bạn khác trong chuyến đi Hà Giang, lúc qua Phú Thọ nghe nói có “cây đa lịch sử” lạ lắm, tôi rẽ xe vào. Vừa dừng xe bên gốc đa thì có hai cô gái đi tới. Tôi hỏi ngay: “Cho chú hỏi thăm về sự tích cây đa”. Cô gái chưa kịp trả lời anh bạn nhảy ngay vào: “Em trông quen quen như người Hà Nội nhỉ”. Cứ thế, tôi một câu, anh bạn một câu, như chơi trò kéo co, cô gái ở giữa chẳng biết đâu trả lời.

Đi một mình cũng là dịp để tự thích nghi ứng phó với từng hoàn cảnh, nhất là chuyện “đột xuất” bất thường. Hôm chạy xe từ Hải Phòng lên huyện Vĩnh Bảo (Quảng Ninh) thăm đền Trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm, lúc về gần đến Hà Nội bị hai cảnh sát giao thông chận xét hỏi. Nghe tiếng còi và thấy cây gậy ngoắc ngoắc, tôi thắng xe rề vào lề đường. Vừa xuống xe đã nghe ngay một câu dằn mặt:

- Kính xe không hợp lệ (kính vuông lại nhỏ xíu, chỉ có một bên). Giấy tờ xe?

Tôi đưa giấy chủ quyền nhưng không phải tên tôi.

- Bằng lái xe?

Tôi đưa bằng lái của DMV California. Anh cảnh sát nhướng mắt đọc rồi hất hàm hỏi tôi:

- Cái gì đây? Đờ rai vơ à?

- Vâng.

- Cái này phải viết bằng tiếng Việt, nghe chửa?

- Vâng, bận sau tôi bảo họ ghi bằng tiếng Việt (Làm sao mà mấy mụ da đen biết tiếng Việt để ghi, nhưng cứ vâng đại cho xong).

- Bảo hiểm xe?

Đến đây tôi buộc phải quyền biến, phải làm chủ tình thế, không thể thưa gửi vâng dạ theo xuôi. Tôi lên giọng nói một hơi:

- Các anh thấy đấy, xe chẳng phải xe tôi, biển số 79 là xe Nha Trang, tôi chạy từ Nha Trang ra, hai hôm nay tôi về Hải Phòng tìm cây đa 13 gốc, mấy anh biết cây đa 13 gốc ở đâu không, tôi đã hỏi một cụ già 80 sinh đẻ tại Hải Phòng thế mà ông cụ không biết nơi mình ở có cây đa nổi tiếng, tôi đã mất hai ngày để tìm cho ra cây đa, cây đa là biểu tượng của làng xã Việt Nam, là chứng nhân của lịch sử: cây đa Tân Trào, là di tích văn hóa: Cây đa Đình Bảng, cây đa Thổ Hà, cây đa am Mỵ Châu, cây đa Tây Thiên, cây đa Bàn Phủ, có cả cây đa ăn miếu tuốt trong Ba Đồn... Thần cây đa, ma cây đề, miền Bắc tự hào có nhiều cây đa nổi tiếng, miền Nam làm gì có...

Tôi làm một hơi hai anh cảnh sát chạy theo không kịp thở. Biết mình đã thành công với kế “Điệu hổ ly sơn”, tôi xuống giọng: “Nói có sách mách có chứng, sách đây”.

184-tm3w.jpg[“Em là người Hà Nội?”]

Tôi rút cuốn QHQOK đưa cho hai anh cảnh sát xem. Họ xúm vào lật lật từng trang, tôi đứng ngoài thuyết minh thêm:

- Đấy các anh thấy đấy, tôi đi từ Nam chí Bắc, cứ đọc mấy đầu đề bài viết là biết không nơi nào tôi không đặt chân tới. Tôi có phải sung sướng đi du lịch như người ta đâu.

Bỗng một anh nói to:

- Ồ, cô gái miền Tây đẹp thế, có cô gái miền Bắc không?

Tôi được thể lên giọng tiếp:

- Ôi thiếu gì, gái miền Tây, gái miền Trung, gái Tây Bắc, gái Tây Nguyên, gái Sài Gòn, gái Hà Nội... gì cũng có, nhưng in vào những tập trước, tập này là tập thứ 8 rồi.

Bấy giờ hai anh mới mỉm cười. Tôi bồi thêm:

- Ngày mai tôi phải chạy về Nha Trang trả xe cho con gái để chuẩn bị bay...

Hai người cảnh sát nhìn tôi cách hiền hòa và vui vẻ nói:

- Thôi thế sếp đi, nhớ chạy cẩn thận.

Tôi chợt nhận ra hai anh CSGT thật đáng mến, ít ra cũng có chút gì dành cho người đường xa gió bụi chứ cứ làm nhất loạt thì coi sao đặng.

Trên chặng đường từ Vinh vào Hà Tĩnh, lúc gần đến địa phận huyện Kỳ Anh, thấy có quán bán dừa trái, tôi dừng xe làm một quả. Tôi phải cẩn thận dặn nhà quán để nguyên trái đừng cho thêm gì vào (2). Cạnh tôi có 3 thanh niên đang kháo chuyện giọng sang sảng cười hô hố, tôi cố nghe xem họ nói gì mà tuyệt nhiên chẳng hiểu tí ti. Tôi sững sờ, đây là xứ sở mình, tiếng nói của mình mà sao có chuyện lạ vậy. Thế ra mình là người nước ngoài à. Tôi càng cố nghe càng không nín được cười, họ nói với nhau bằng thứ tiếng y như một loài chim đang líu lo đấu hót. Uống hết quả dừa, nghe tiếng được tiếng mất, tôi đoán chừng họ kể với nhau về một tai nạn ô tô.

Chạy qua các tỉnh từ Bắc vào, tôi thấy có một hình ảnh hơi lạ so với trong Nam. Những làng quê ngoài bắc, và miền Trung, làng nào cũng có cổng làng. Có làng còn nguyên cổng xây từ năm 1932 với 4 chữ: “Bảo đại kiến như” (cổng làng Nhị Khê quê của Nguyễn Trãi). Làng nào xây cổng mới thì cũng chỉ đề tên như: “Xóm Liên Nậu 1 xã Kim Liên” chẳng hạn. Đơn giản, không văn hóa văn minh gì cả. Trong khi miền Nam từ hẻm phố đến ngõ làng, chỗ nào cũng Khu Văn Hóa, Ngõ Văn Hóa, Khóm Văn Hóa, Làng Văn Hóa cho đến chỉ vài ba nhà cũng là Cụm Văn Hóa.... Hỏi tại sao, đã có người giải thích cách ngắn gọn như vầy: “Tại miền Nam sống trong thời Mỹ Ngụy không hề có “văn hóa” nên ngày nay phải dành “văn hóa” ưu tiên cho miền Nam”. Nghe mà không biết nên khóc hay cười.

Thực ra trong đời sống hai miền không thiếu những điểm khác biệt, khác biệt về phong tục tập quán, khác biệt về ngôn ngữ, khác nhau về nếp sống.... Trong Nam dừng chân dọc đường thích nhất là có võng nằm. Chạy suốt mấy tiếng đồng hồ, ghé quán thưởng thức một ly nước dừa, nằm võng đu đưa chốc lát, đấy là cách hồi sức rất nhanh. Miền Bắc, đốt đuốc tìm không đâu có “quán võng”, toàn những “Phong độ quán, Thịt chó quán, Lá đa quán, Sương gió quán...”.

Viết đến đây tôi lại thấy tiếng Việt ngày nay thật phong phú, biến thể không ngừng, sáng tạo liên tục. Có lần đọc báo thấy chữ “thi thoảng”, tôi không hiểu, được anh em giải thích: “Đấy là biến thể của thỉnh thoảng, viết thế cho nhanh, cần tiết kiệm thời gian”. Tôi nghi ngờ cho là nhà báo đánh máy nhầm, tôi cãi lại: “Chắc không phải thế, đấy là lỗi đánh máy thôi. Chứ biến như vậy thì chẳng mấy chốc vô địch thành “vô đi”, tham nhũng thành “tham nhu”, vĩ đại thành “vi đa”, rồi còn ra thể thống gì! Nghe tôi “phản biện” anh bạn bật người dậy thuyết cho tôi một hơi: “Bây giờ là thiên niên kỷ mới rồi, chữ nghĩa như ông ai đọc cũng hiểu là xưa rồi. Ngày nay ông thấy đấy thứ gì cũng cơ khí hóa, điện khí hóa, có hóa thế mới sáng tạo ra đồ mới mà xài. Chữ nghĩa cũng vậy, không những biến thể mà còn sáng tạo ghép chữ ghép câu sao cho thật tinh tế, may ra mới theo kịp nền văn chương học thuật xứ người...”.

Càng nghe tôi càng ngớ ra như ngỗng đực. Hình như anh bạn cũng nhận thấy điều đó nên hạ giọng đưa ra một số ví dụ để “khai hóa” cho tôi: “Đi đường ông thấy những chiếc cầu phá ra làm lại có cắm bảng: “Cầu đang gia tải”, đấy là ghép hai chữ gia tăng trọng tải nghĩa là cầu được nâng cấp đấy”. Sẵn đà anh dẫn chứng thêm: “Duy tu đường” là duy trì + tu sửa, trường “sư mẫu” là do 2 chữ sư phạm mẫu giáo, “giao hợp” là giao lưu hợp tác, “hành kinh” là hành động rút kinh nghiệm....

Tôi phải lên tiếng ngắt lời để ra khỏi con đường “sáng từ” (sáng tạo từ ngữ) của anh chứ đã đi quá xa đề bài. “Tản mạn đường xa” lại bàn toàn chuyện đường gần.

184-tm2w.jpg[Đường vào Thác Mơ Định Quán]

Nhu cầu dọc đường nhiều khi thật đơn giản song không phải lúc nào cũng sẵn có cho mình. Nhỡ đường, cần một chỗ nghỉ qua đêm thế mà nhiều thị trấn tuyệt nhiên không khách sạn không nhà nghỉ (3). Có lần cũng bí thật, hôm ở thị trấn Vĩnh Lộc cách Thanh Hóa 50km, tìm chỗ nghỉ để sáng hôm sau lên Lam Kinh (Kinh đô thời Lê Thái Tổ) còn 30km nữa, vậy mà tìm không ra một chỗ trọ. May lại gặp quới nhơn, ông chủ quán cháo gà nghe than thở ông cho ngủ nhờ. Ăn bát cháo 10 nghìn đồng lại được trọ một đêm miễn phí.

Anh bạn quí của tôi, anh Hoàn ở Westminster, hỏi: “Người ta đi là phải sắp đặt nơi ăn chốn ở trước rồi mới đi, ông sao đi ẩu tả vậy”. Tôi đùa: “Đấy là người ta đi kinh lý thưa ông, còn tôi “kinh hành”, nghĩa là hành cho thất kinh để đừng đi nữa”. Nói đúng ra ai chẳng muốn đàng hoàng chu tất mọi chuyện, nhưng như thế chỉ có ở nhà hoặc loanh quanh thành phố thôi. Người xưa bảo: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”, tôi thì thấy đi một ngày đàng mới biết mình còn nhiều yếu kém, nhiều thứ chưa biết, và nhiều chuyện bất ngờ... những chuyện bất ngờ đã để lại bao hiêu hình ảnh, bao nhiêu cảm xúc, mãi mãi không mờ phai... (mời đón xem TM ĐX kỳ 3).

Trần Công Nhung

9 - 2008

(1) Khâu Vai huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang, đọc bài Chợ Tình Khâu Vai.

(2) Lần đi Khâu Vai Mèo Vạc ngang qua Vĩnh Phúc uống nước dừa, bà quán tự ý cho vào 2 muỗng đường uống cạn mới biết. Thế là người cứ gật gà buồn ngủ. Đường cao chỉ muốn nằm.

(3) Đọc Tràm Chim QHQOK tập 4, Đêm nghe tiếng cuốc QHQOK tập 7

*****************

source

Vien Dong Daily

Chợ Ma bán chiếu (kỳ 2)


Chợ Ma bán chiếu (kỳ 2)
Cập nhật lúc 1:14:06 AM - 27/10/2008

h1Web.jpgBài và ảnh: Trần Công Nhung

Chạy chừng tiếng đồng hồ, qua một khu cư dân có ngôi chợ Cái Tắc, tôi dừng lại hỏi đường. Một ông lão cho biết đi Định Yên không cần qua thị trấn Lấp Vò. Từ chợ Cái Tắc đi tiếp QL 80 qua cầu thứ hai có đường nhựa bên trái, về Định Yên 10km.

[Làng chiếu Định Yên]


Đúng thế, và đây chính là ngã ba mà bác nông phu đã nói. Con đường rộng khoảng 3m mang tên 26/3 (5) xuyên qua cánh đồng lúa có chỗ đã chín vàng. Một kênh đào men theo đường về tận Định Yên. Những cây bạch đàn cao đổ bóng, đường mát rượi, không khí trong lành, người qua lại không ai bịt mặt. Tôi cũng thoải mái tháo khẩu trang để hít thở gió đồng lồng lộng thơm mùi lúa. Thỉnh thoảng hai bên lộ có hàng quán giải khát, khách vài ba người. Cảnh xa lạ mà thân quen, tôi yên tâm hơn những lúc chạy xe trong phố đông người. Không khí trong lành, cảnh trí thoáng đạt, con người cũng nhẹ đi bao nỗi buồn phiền.

Qua một chiếc cầu nhỏ, nhà cửa đông dần. Đã thấy dấu hiệu của làng nghề: Lác, chiếu, phơi dài dài hai bên đường, màu thắm tươi, xanh, đỏ, vàng, chiếu hoa mẫu mã rất đẹp. Một vài nhà, bà con đang dệt chiếu trước hiên. Đến ngay giữa làng tôi vào thăm một nhà. Hai người đàn bà lặng lẽ bên khung dệt, thấy tôi vào họ chỉ nhìn không nói gì. Một người chuồi lác qua khung, một người kéo thanh gỗ ngang ép sợi lại, thong thả đều đều cho đến khi hết chiều dài chiếc chiếu. Chiếu bán thường có khổ: dài 2m, rộng 1m2, 1m4, 1m6... Mãi một lúc tôi mới hỏi:

- Hai người mỗi ngày dệt được mấy chiếc hả chị?

- Dạ, được 2 đôi.

- Rồi bán thế nào?

- Mỗi đôi 48 ngàn bán cho lái, bán lẻ đắt hơn.

- Chợ chiếu nghe nói họp tại bến đình vào nửa đêm?

- Đó là lâu rồi, bây giờ họp trước trụ sở xã.

Đến một đoạn nữa có chiếc cầu đúc qua kênh. Bên này cầu có văn phòng xã, bên kia cầu là chợ Định Yên. Trước mặt xã có đám đất rộng, cạnh có quán hàng ăn. Tôi ghé uống nước và tìm hiểu thêm. Bà quán cho biết, dạo này chợ họp lúc 1 giờ sáng, 4 giờ chợ tan. Sự tích chợ họp về khuya là do mấy chục năm trước từ thời Tây, người bán cũng như mua muốn trốn thuế. Chợ quê thu thuế bằng cách dán một mẩu giấy màu bằng lóng tay lên nón như biên nhận. Ở đây mỗi người một cây đèn dầu, cảnh chợ lù mù le lói, người thu thuế không sao nhớ rõ ai nộp ai chưa. Một lẽ nữa, ban ngày người dân làm công kia việc nọ hoặc lo dệt chiếu, đêm mới có thì giờ. Trước đây người ta đồn chợ này là chợ ma, vì con trai trong làng thường rình ôm con gái đi bán chiếu. Từ nhà ra chợ xa mấy cây số, giữa đêm khuya, hai tay lo giữ chiếu trên đầu, các cậu trai thừa cơ núp hai bên đường nhảy ra ôm. Anh nào bị nhìn mặt, làng sẽ phạt một đôi bông tai cho người con gái, vì làm mất duyên người ta. Tôi hỏi thực hư thế nào, chị chủ quán cười:

- Chuyện đó chấm dứt từ năm tám mấy rồi. Hồi trước làng xóm vắng, an ninh chưa có chứ bây giờ không còn nữa.

- Quanh chợ có nhà trọ không hả chị?

- Làm gì có, chú hỏi văn phòng xã người ta cho ngủ.

Chị tưởng tôi là người nhà nước đi công tác nên thực thà góp ý, mình mà mò vào đấy là “rách việc” ngay. Chợ Định Yên bên kia cầu, lều sạp bao quanh đình chợ, như tổ chim. Cố tìm một xe bán bánh mì mà chẳng thấy. Hàng ăn bày bán ra tận lộ về thị trấn Lấp Vò, cháo cơm phở bún... nhưng hàng nào cũng ruồi nhặng bu đen. Đã một hai lần “ngộ độc” nên không dám, tôi đành vào quán cà phê, ăn tạm mấy chiếc bánh AFC mang theo. Tôi gọi ly đen không đường, xin một cốc nước sôi rồi tự pha thành ly cà phê sữa. Tôi luôn luôn mang theo ít sữa bột, vài cây Power Bar Glucerna, Zone... để dùng trong trường hợp không kiếm được thức ăn. Cứ một cốc với thành phần đơn giản như thế cũng có thể chống cự được nửa ngày.

Nắng chói chang, quán cà phê mỗi mình tôi, anh chủ quán đánh trần phì phạch quạt. Anh cho biết tại thị trấn Lấp Vò có nhiều nhà nghỉ. Nhớ lại chuyện “Đêm nghe tiếng Cuốc” (6), tôi không dại ngủ nhờ để rồi thấp thỏm lo sợ. Tôi phải về Lấp Vò, khuya sẽ quay lại. Chạy đến ngã ba bắc Vàm Cống, phải ngược lại QL 80 ba cây số mới đến thị trấn. Nhưng ngay đấy không xa có nhà nghỉ Kim Phát, tôi vào luôn. Ban ngày vài chục cây số chẳng sao, đêm khuya một hai cây cũng đáng ngại. Nhà nghỉ vắng hoe, dường như chỉ có khách thuê giờ còn nhỡ đường như tôi chẳng mấy ai. Gọi mãi một lúc mới có người ra tiếp. Hỏi qua điều kiện nghỉ lại như thế nào, giá phòng bao nhiêu, cô “lễ tân” chỉ cười cười chẳng nói gì. Hỏi mấy lần cô mới cho hay cô chỉ đến trông giúp cho bà dì nên không rõ. Tôi lấy phòng và sắp xếp để nghỉ ngơi.

Chiều tối trời đổ mưa, càng lúc càng to, chẳng biết quán hàng đâu, tôi nhờ khách sạn mua hộ bát bún. Bún riêu Nam ăn cho có chứ không bằng bún riêu Bắc. Mưa tiếp tục rào rào trên mái tôn, mưa ở miền quê nghe rõ mồn một, ngoài tiếng mưa rơi chẳng còn tiếng gì khác. “Khuya nay mà mưa vầy, không biết rồi làm sao”. Tôi phân vân mãi mới chợp mắt một lúc. Một giờ thức giấc, mưa đã dứt, tôi vội lên đường.

Trời không mưa nhưng chạy xe thấy lạnh. Từ ngã ba bắc Vàm Cống về chợ Định Yên trời lờ mờ ánh trăng 13, cả một vùng lặng yên như say ngủ, qua những vườn cây trời tối đen tưởng như xuyên qua rừng. Bấy giờ mới thấm thía nỗi quanh hiu, mới thấy ghê ghê cảnh vắng dặm trường, may có trăng làm bạn. Bầu trời không trong xanh nhưng không mây dày nên trăng không bị khuất, trăng như người bạn đồng hành giữa đêm khuya. Lúc này với tôi trăng không phải để gợi hứng mà là người bạn đường cần thiết, nếu trăng bị mây kéo thì tôi không biết sẽ ra sao. Lâu lâu có ánh đèn xe chạy ngược chiều, tự nhiên mình thấy yên tâm hơn. Qua cầu Bà Vải, hai bên đường là rừng chuối tối đen, bóng đen sát đường lộ. Tôi không nghe tiếng máy xe mà nghe những chuyển động hai bên đường. Tôi cố bình tĩnh giữ tay lái và đầu óc xua đuổi những chuyện bất trắc. Thật khó lòng. Nhà Thông Thiên Học Krisnamurti có bảo: “Khi anh thực sự sống trong cảnh khổ, anh sẽ không còn cảm thấy khổ”. Tôi đang lâm vào nỗi sợ bóng đêm mà sao càng lúc sự sợ hãi càng tăng! Một con vật như con mèo vụt băng qua đường, không có gì nguy hiểm, tôi cũng giật mình. Trong thời bình tướng nào cũng dũng cảm oai phong, khi lâm trận mới biết ai hèn ai can đảm. Ngày trước qua những đoạn đường như vầy các cô đội chiếu bị ôm là điều có thể hiểu. Kêu ai giữa nơi hoang vắng này.

Tôi lại tự trấn an: “Chỉ còn mấy cây nữa thôi”. Đến quán cà phê ban chiều tôi thấy người nhẹ hẳn, đã có ánh đèn. Rẽ qua chợ, một hai hàng thịt bắt đầu bán. Chị hàng thịt mập ú, với cây dao to bản đang chặt bôm bốp xuống khối thịt lợn chia cho bạn hàng. Dưới ánh đèn vàng leo lét, hình ảnh nhờ nhờ, cảnh như ở cỏi A Tỳ. Lên đến đầu cầu đã thấy chợ nhóm bên kia con kênh, không đông lắm, dăm ba chục, kẻ đứng người ngồi, hình ảnh mập mờ trong ánh đèn hắt ra từ hiên văn phòng xã. Tôi đứng trên cầu ngắm toàn cảnh một lúc rồi lần xuống chợ. Người ta thường bảo “ồn như họp chợ”, không đúng trong trường hợp này, chợ chiếu không lều sạp, không phân lô, không thứ tự.... Ai đến trước tùy thích chọn chỗ cho mình. Chiếu trên xe đạp, trên xe máy, trên đất. Chỗ này chiếu đứng, nơi kia chiếu nằm. Người bán chiếu đa số là đàn bà con gái, quần áo nhiều màu nhưng nét mặt ai cũng đăm chiêu. Cảnh chợ không huyên náo, người bán kẻ mua trao đổi âm thầm: Chợ Ma!

h2web.jpg

[Chợ chiếu nửa đêm]

Tôi đi quanh quan sát chụp ảnh, chẳng ai ngạc nhiên, có lẽ đã nhiều người đến đây làm công việc này. Ra chỗ bến sông nhìn xuống, vài chiếc ghe của thương lái đang đưa chiếu lên thuyền. Tôi không thấy cảnh thuyền bè chi chít, không thấy ánh đèn lập lòe trên sông, không thấy gì quá lạ như nhiều bài báo mô tả. Cảnh cho thấy một đời sống bình thường đơn giản và lặng lẽ cực nhọc. Tôi hỏi chuyện một bác thương lái:

- Bác mua chiếu rồi về bán tận đâu?

- Đi các tỉnh Long An, Đồng Tháp... Cần Thơ.

- Bác biết tại sao chợ họp về đêm?

- Thực ra thì đã lâu đời thành nếp quen. Riêng giới chúng tôi thấy cũng tiện, khuya ghe đến mua, sáng chở về các tỉnh bán, đỡ mất thời gian.

- Bán như thế lời có khá không bác?

- Nếu chiếu đi xa, mỗi chiếc lời 5000, gần lời 2000.

- Chiếu Định Yên so với chiếu nơi khác bác thấy sao?

- Chiếu Định Yên có tiếng xưa nay, nhiều mẫu mã đẹp: Chiếu bông con cờ, chiếu bông động phòng hoa chúc, chiếu trắng, chiếu hoa văn, chiếu vẩy ốc... Nhất là màu nhuộm giặt không phai. Chiếu Định Yên một đôi mất 6 - 7 ký lác. Cái hay của người Định Yên là cải tiến khung dệt và cách pha màu, móc trân.... Chiếu con cờ Cà Mau trân “long mốt”, chiếu Định Yên móc trân long hai (một sợi trân đan 2 sợi lác) và có từ 2 đến 5 màu trong mỗi khung cờ. Do vậy chiếu Định Yên hơn hẳn chiếu nơi khác.

- Thường mỗi chuyến bác mua bao nhiêu đôi, lâu mau thì trở lại?

- Mùa bán đắt như Tết có khi vài trăm đôi, hết thì quay lại.

h3Web.jpgTôi dạo quanh thấy người bán giữ chiếu đứng, người mua đặt chiếu nằm, đây cũng là “qui ước” của chợ để tránh hỏi nhầm những chiếu đã bán, mất thì giờ. Điểm đặc biệt nữa là trong chợ không có hàng quà, chỉ có người và chiếu. Ai bán hết chiếu, về nhà lấy thêm, nếu đã ba bốn giờ sáng thì về luôn, chợ cứ thế vơi dần.

[Chợ Định Yên]

Gà đã gáy canh ba, tôi quay lại nhà trọ. Bây giờ trăng tỏ hơn, tôi không còn thấy e ngại như lúc đi. Tuy nhiên nghĩ cũng liều, chẳng may xẩy ra “sự cố” thì thật không biết cái giá phải trả là như thế nào.

Nếu bảo chợ chiếu Định Yên là điểm du lịch hấp dẫn, là cảnh quan kỳ lạ như nhiều bài báo đã ngợi ca cổ vũ, theo tôi không đúng lắm. Nói về chợ đêm thì còn nhiều nơi tấp nập hơn: Chợ rau cải Long Biên (Hà Nội), chợ đêm Đà Lạt, có nhiều thứ cho du khách dạo xem mua bán. Định Yên xa xôi, đường sá khó khăn khúc khuỷu, không chỗ nghỉ đêm, rất bất tiện đối với khách phương xa, trừ những ai tò mò muốn tìm hiểu sinh hoạt đời thường của một miền quê Nam Bộ thì chuyện lại khác.

Trần Công Nhung

4 - 2008

(5) VN rất thích dùng con số ngày tháng để đặt tên đường: 3/2, 26/3, 1/4, 2/9...là những ngày kỷ niệm các hoạt động của người cộng sản. Các nước khác chỉ dùng số thứ tự: 1st, 2nd, ....

(6) QHQOK (7)

******************

source

Vien Dong Daily

Chợ Ma bán chiếu


Chợ Ma bán chiếu
Cập nhật lúc 2:05:00 AM - 10/10/2008

181-h2wa.jpgBài và ảnh: Trần Công Nhung

Chiếu có lẽ là vật thân thiết cả một đời người. Chiếu được xem như một đề tài cho giới văn nghệ sĩ sáng tác, chiếu đã đi vào thi ca (1).

[Kênh Họa Đồ]


Thời thế có đổi thay, khoa học có phát triển, nhưng chiếu cói, chiếu lác, vẫn sống và ngày một đẹp hơn. Chợ chiếu vẫn còn đó đây khắp mọi miền đất nước. Có nhiều chợ chiếu tên tuổi xuyên thế kỷ: Chợ chiếu Bàn Thạch Duy Xuyên (Quảng Nam), chợ chiếu Định Yên Lấp Vò (Đồng Tháp)...

Những sinh hoạt về đêm thường được gọi là Ma là Âm Phủ. Huế có quán cơm Âm Phủ nổi tiếng một thời, một hai giờ khuya quán mới mở cửa, thực khách là giới sống về đêm, giang hồ tứ chiến...(2). Chợ chiếu Định Yên còn được gọi là “Chợ Ma bán chiếu” vì chợ họp vào nữa đêm khuya khoắt. Lại nghe đồn người bán kẻ mua trên bến dưới thuyền, đèn dầu le lói lập lòe, hư ảo âm dương... Cảnh thật gợi cảm, ai cũng muốn xem một lần cho biết. Lộ trình về chợ chiếu Định Yên: Sài Gòn - Vĩnh Long - Sa Đéc, từ Sa Đéc đi Lấp Vò. Định Yên cách thị trấn Lấp Vò 10km.

181-h1wa.jpg

[Chiếu Thanh Hóa]

Khởi hành thật sớm, 8 giờ 20 tôi đến ngã ba Vĩnh Long Sa Đéc. Nắng đã lên cao, nắng đầu mùa hạ chưa gắt lắm, mà con đường thì xấu tệ, lở lói hang lỗ, chạy xe như cỡi ngựa. Qua chợ Cái Tàu Hạ, dân cư còn nghèo, chỉ mỗi nhà thờ Tin Lành cạnh chợ, màu mè như mới xây... Con sông Cái Tàu không rộng, nhà cửa hai bên bờ cũng na ná như những con sông dọc đường về miền Tây. Nhờ chợ Cái Tàu, bến thuyền tấp nập, có đề tài cho nhiếp ảnh. Tuy chủ đề quen nhưng đường nét lạ nên rất hấp dẫn. Tôi đang mải mê chụp cảnh thuyền lui tới trên sông thì một người đàn bà mất trí đến lải nhải xin tiền. Chẳng biết thực hư, song cách ăn mặc và cử chỉ nói năng thì rõ là người không bình thường. Chuyện “không bình thường” là chuyện bình thường ở Việt Nam ngày nay. Có anh bạn văn nghệ bảo “...đấy là đặc sản của nước ta. Chính nhờ đặc sản này mà du khách đến VN ngày càng tăng. Nếu nước ta cũng văn minh đàng hoàng như những nơi khác thì họ đến đây làm gì”. Nghe mà xót xa cho bốn nghìn năm văn vật!

Những cây cầu trên đoạn đường này đang làm lại, xe cộ chạy rất chậm, bụi bay mịt mù. Vĩnh Long Sa Đéc mười mấy cây số mà phải hơn tiếng đồng hồ mới về tới. Gần đến thị xã Sa Đéc, đối diện chợ Tân Bình, bên kia sông là một làng lò gạch chạy dài, hình ảnh rất lạ. Lò hình chóp nóc vòm, ống khói bên hông, nối tiếp nhau, trông như kiến trúc người Ả Rập. Không như lò gạch miền Trung xây theo khối vuông, khói ra trên miệng. Chẳng hiểu tại sao có sự khác biệt này.

Hình ảnh trước mặt làm tôi vui hẳn lên, quên đoạn đường vất vả vừa qua. Chụp ảnh một lúc thấy vẫn chưa thỏa, tôi xuống bến đò Tân Xuân qua thăm làng gạch có một không hai này. Trí tưởng tượng thúc hối: “Sẽ còn nhiều thứ mới lạ khác”. Tôi cứ ngỡ qua sông rồi rong xe trong làng, bao nhiêu hoạt cảnh đời thường của vùng quê Nam Bộ. Nhưng không, lên bến như vào ngõ cụt, đường hẹp tí, lỗ chỗ ổ gà, khúc khuỷu quanh co, xe rất khó chạy, cũng chẳng biết về đâu. Bà quán ngay bến bảo muốn xem lò phải gửi xe đi bộ. Tôi làm theo và len lỏi như vào hang động. Lò này sát lò kia, không có lấy một khoảng cách tối thiểu để chụp những gì chung quanh. Nhiều lò bỏ trống, vào trong mới thấy lò xây theo vòng tròn càng cao càng nhỏ, nóc có miệng vuông. Lò nung bằng trấu, ghe bán trấu đậu san sát dưới bến sông. Một vài nơi nhân công đang đẩy xe, xếp gạch, gánh trấu..., hình ảnh người lao động Việt Nam lúc nào cũng kham khổ nhưng đẹp. Đẹp không trau chuốt, không kiểu cách (3), đấy chính là cái đẹp của tình người, cái đẹp chân chất, cái đẹp của nghệ thuật. Tôi không tìm thấy những gì mình mường tượng lúc đầu. Tôi hỏi một người, có lẽ nhân viên quản lý :

- Lò gạch của hợp tác xã phải không thưa anh?

- Không, của tư nhân.

- Gạch nung trấu, lâu mau được một mẻ ?

- Hai tháng.

- Lương công nhân chắc khá?

- Đủ ăn, mọi khâu ở đây đều khoán. Khâu đúc, khâu nung... Nhưng dạo này giá gạch xuống, nhiều lò phải đóng cửa.

181-h3w.jpg

[Lò gạch]

Rảo qua mấy vòng, không có gì hơn, tôi trở lại thị xã Sa Đéc. Nhiều chủ đề phải đứng xa mới thấy hay, từ trên cầu Hòa Khánh nhìn qua chợ hoa quả, một dãy tăng bạt dọc bờ sông, đẹp, sạch sẽ. Dòng sông tuy nước đỏ nhưng không rác bẩn, không lục bình. Chợ Sa Đéc nằm ngay quốc lộ 80, ngăn nắp sáng sủa, không buôn bán nhăng nhít trước mặt chợ như chợ Hàn (Đà Nẵng) Đông Ba (Huế)... nghĩa là có “nếp sống văn minh”.

181-h4wa.jpg

Đã trưa, tôi ghé vào quán bên đường kiếm thứ ăn. Ăn gì cũng phải tránh rau sống. Nước uống và rau sống là đầu nguồn của bao nhiêu thứ ngộ độc. Cố gắng thôi chứ thực ra mầm bệnh độc hại bao trùm khắp mọi nơi. Hàng ngày báo vẫn kêu hộ cho dân nghèo. Vì nghèo phải sống bên sông lạch dơ bẩn, phải chịu hít thở bầu không khí ô nhiễm. TV đã đưa một cảnh ở Bình Dương, mỗi mùa mưa dân chúng hứng chịu bao nhiêu chất thải hôi thối của nhà máy tuôn ra. Người đàn bà khốn khổ mếu máo trả lời phóng viên truyền hình: “Khổ lắm mà không biết kêu ai, mưa xuống nước dâng, bao nhiêu dơ bẩn của nhà máy tràn vào nhà”. Có vùng dân ở gần nhà máy, phải đóng cửa trước, đi cửa sau để tránh mùi... Nếu du lịch bằng xe hơi thì phải công nhận từ Nam chí Bắc nơi nào cũng “hồ hởi” vui chơi, của ngon vật lạ tràn đầy. Thành phố nào cũng rầm rộ hoạt động du lịch. Người Việt sáng tạo giỏi, bắt chước nhanh, thế giới có gì ta có nấy, có đến mức dư thừa. Cứ nhìn kiểu cách ăn mặc, các trò giải trí vui chơi, nhìn những tòa bin đinh, nhìn xe cộ chạy đầy đường, không ai tin chuyện dân kêu ca khiếu kiện, chuyện bán vợ đợ con để sống qua ngày. Hoa Hậu Hoàn Vũ một vé 1800 USD, ai dám bảo VN còn nghèo.

Tiếp tục về Lấp Vò, trời càng nắng gắt, quốc lộ 80 chạy theo con kênh nước đục vàng. Không hiểu con đường có tự bao giờ, mặt đường mấp mô, ổ trâu ổ voi, cứ như đường từ đầu thế kỷ trước. Chạy xe máy trên những đoạn nầy thật vất vả. Bên kia bờ kênh nhà nào cũng có bến để tắm giặt. Vài con thuyền lá chụm đầu dưới lùm cây, trên cầu ao, người thiếu nữ nghiêng mình múc nước... Những chiếc ghe buôn đầy ắp hoa quả thong thả ngược xuôi, cảnh thanh bình mà quá vắng lặng. Nơi đây không bị khuấy động bởi sinh hoạt thị thành. Mọi thứ êm đềm trôi như dòng kênh mộc mạc.

Vừa dừng chân nghỉ dưới bóng cây bên đường thì có một bác đạp xe qua, tôi đưa tay ra dấu muốn hỏi chuyện. Người đàn ông đen đúa, dáng con nhà nông cực nhọc, ông nhìn tôi với vẻ lạ lùng. Tôi nói mấy câu xã giao thân mật cho bác yên tâm:

- Bác à, con đường này xấu quá sao nhà nước chưa làm lại?

- Đường này do Pháp làm.

- Đây là kênh gì, chắc mới đào?

- Không, cũng do Pháp, kênh Họa Đồ.

- Kênh này chảy về tận đâu hả bác?

- Nó chạy theo lộ về Lai Vung rồi tẻ ra nhập với sông Hậu.

Tôi hỏi đùa bác nông phu một câu: “Chắc (...) ở đây không có ai (...)?” Không ngờ câu hỏi chạm mạnh vào nỗi “bức xúc” sâu kín, bác ta kể một hơi về các nhân vật Đồng Tháp, rồi qua chuyện (...) lấy chồng ngoại quốc. Chính bà dì của bác cũng (...) đứa con chỉ được một triệu rưỡi “VND”. Chợt ông im bặt, nhìn tôi như tra hỏi:

- Thôi, nói với ông một hồi tui đi ở tù bây giờ. Ông là nhà báo hả?

- Không đâu, tôi đi về Lấp Vò để thăm chợ chiếu Định Yên.

Người đàn ông như vẫn chưa tin. Tôi phải đưa cuốn sách ra chứng minh việc làm của mình. Ông lật xem qua nhiều trang rồi cười: “Ông cho tui một cuốn”. Tôi lại phải giải thích, cuốn sách như một thứ “CMND” để khi cần “thanh minh thanh nga” với người làm nhiệm vụ (...). Xứ mình nhiều “bọn xấu và thù nghịch”, (...) khắp mọi nơi nên phòng xa, chứ tôi cũng chưa gặp rắc rối bao giờ.

- Bác chỉ giùm tôi đường về Định Yên.

- Ông cứ thẳng một đường, cách Lấp Vò độ 10 cây, có lộ nhựa quẹo trái là đường về Định Yên.

- Còn bao xa nữa bác?

- Ba mươi cây.

Nói xong ông lẳng lặng đạp xe đi. Tôi cũng nổ máy chạy tiếp. Con đường càng lúc càng xấu, nhất là đoạn qua thị trấn Lai Vung. Cầu nào cũng cắm bảng “đang gia tải” (4). Dân vùng này cũng như vùng chợ Cái Tàu, không có vẻ sung túc mấy. Đặc biệt nem chua treo bán lủng lẳng, quán này tiếp quán kia. Nem lại gói bằng giấy màu xanh dương chứ không bằng lá chuối. Mùa nắng ruồi nhặng nhiều, đồ tươi sống rất dễ nhiễm độc, thế nhưng giới bình dân vẫn coi như không. Nơi nào cũng ăn nhậu thoải mái. Đến bây giờ tôi thực sự cũng chưa hiểu sao thịt heo sống giả nhuyễn, gói lá chuối để năm ba hôm là thành món nhậu độc đáo (có lẽ chỉ riêng VN).

(còn tiếp)

Trần Công Nhung

4 - 2008

(1) Tình anh bán chiếu đã đăng

(2) Quán có nửa thế kỷ trước, cạnh sân vận động, dành cho khách chơi đêm 1, 2 giờ sáng về ghé quán. Giờ đấy thì món gì cũng ngon. Ngày nay vẫn còn quán Âm phủ nhưng bán cả ngày và địa điểm khác chủ nhân khác.

(3) Có những hình ảnh của giới lao động không có gì nguy hại, như gánh hàng rong trong phố cổ Hà Nội, một trong những nét đẹp của 36 phố phường. Bây giờ (...) VN đã đẩy Hà Nội lên “thành phố công nghiệp hiện đại”. Muốn Hà Nội như Hong Kong Thượng Hải. Không hiểu rồi Hà Nội còn gì cho du khách tìm đến.

(4) Cầu làm lại để chịu được trọng tải lớn hơn.

***************************************************

source

Vien Dong Daily

Chuyện đi về

Cập nhật lúc 12:16:28 AM - 04/10/2008

h3_SFW.jpgBài và ảnh: Trần Công Nhung

Năm nào tôi cũng có một chuyến đi xa. Thường là về nơi trước đây do thời cuộc mà phải ra đi.

[Cảnh đồng Hà Nam]


Đi về như vậy không phải khó khăn chuyện vé xe vé tàu như người quốc nội. Người ta làm ăn theo cung cách quốc tế nên chẳng bao giờ có chuyện cửa trước cửa sau, chuyện thập thò mua vé chợ đen. Tuy nhiên mỗi chuyến đi cũng có những vấn đề làm khách không hài lòng. Máy bay đi Việt Nam ngày nay có nhiều hãng, giá cả chênh lệch chút đỉnh song vấn đề phục vụ thì khác nhau xa. Nhất là an toàn và giờ giấc. Tôi đã nhiều lần đi VN Airline, China Airline, Eva... Cuối cùng tôi chọn Cathay. Cathay máy bay mới, nhân viên vui vẻ lịch sự, giờ giấc chính xác.

Sau khi làm thủ tục “check in”, khách ra cổng 121 đợi giờ lên máy bay. Cổng này chung cho 2 chuyến bay 883 và 881 Cathay Pacific. Gần đến giờ ra cổng, có loan báo đổi Gate, chuyến bay 881 chuyển qua cổng 112. Lần đầu tiên tôi thấy bất mãn với phi trường LAX. Một ba lô, một túi xách ước chừng 40 pound mà đi bộ hơn cả cây số thì chẳng thú vị gì. Những đường chuyền lại không hoạt động. Chẳng lẽ nước Mỹ tiết kiệm điện đến mức như vậy! Thật hạnh phúc cho những ai chỉ một túi nhỏ trên vai. Chẳng phải mình tham lam hay buôn chạy bán chuyến đến phải vác theo người một khối lượng è vai như thế, mà do công việc bắt buộc, không thể khác. Ba lô lỉnh kỉnh máy ảnh máy quay, laptop, hard drive tư liệu, và bao nhiêu thứ phụ tùng đi kèm, làm sao gửi theo hành lý, nhân công họ chỉ liệng nhẹ một cái là nát hết. Và, nếu chẳng may thất lạc (1), thì biết xoay sở ra sao. Đành tự an ủi : Coi như một “ super exercise”. Đến giờ lên tàu, loa phóng thanh cho biết khách ra cổng theo thứ tự ghế ngồi: 70, 60,... 30... ấy thế nhưng vẫn có ông bà theo “truyền thống”, vé số nhỏ vẫn chen lên trước để các tiếp viên phải liên tục: Please…please have a seat. Số nhỏ lên trước sẽ cản trở người có ghế phía đuôi máy bay. Một số ông bà mang xách quá nhiều cũng phiền người khác không ít!

Lần này Cathay Pacific lại dùng xe đưa khách ra máy bay, chiếc xe như nêm người, tìm được một chỗ cho đôi chân thật khó, có gia đình dẫn theo những 3 em bé, tuổi mới lên sáu mà cũng mang ba lô như người lớn. Lối dạy con của người Mỹ khác xa người Việt, họ tạo cho đứa trẻ tinh thần tự lập, không như người mình lúc nào cũng cáng đáng, lo lắng cho con mọi thứ dù con dư sức tự làm lấy.

Đoạn đường đến cửa máy bay khá xa. Cảnh lên tàu xuống xe tôi thấy phần đông người mình ở đâu cũng thích chen lấn, muốn hơn thua từng chút, và ưa khoe sự hiểu biết thô thiển của mình. Nhiều người cứ oang oang chuyện riêng tư trước chốn đông người, nhất là trên xe, trên tàu.

h2_SFW.jpg[Nhìn xuống HongKong]

Đến HongKong, khách đi VN chuyển qua chuyến bay khác, lúc nhìn bảng đèn thông báo thấy VN 176… nhiều người thất vọng, lại phải ngồi máy bay VN. Máy bay các hãng uy tín có đắt một chút nhưng yên tâm, VN Airline dùng máy bay Airbus của Pháp, trong thời gian qua có nhiều tai tiếng: Mất hành lý, “sự cố” kỹ thuật, phi công ngủ quên, v.v., đa số khách bây giờ không còn thích chuyện “đồng hương giúp đồng hương”. Tôi cũng như mọi người tưởng Cathay đã xí gạt mình nhưng không, vẫn máy bay của Cathay, VN 176... là chuyến bay VN đi ké.

Chỉ còn chừng 2 tiếng là về Sài Gòn. Máy bay vào không phận VN, bản đồ chỉ đường bay ngang qua Đà Nẵng Qui Nhơn, nhìn xuống thấy giữa vùng biển xanh nổi lên một quần đảo, những đảo lớn xếp thành ô vuông, không thấy dấu hiệu gì của đời sống. (...) hay (...)? Vấn đề (...) trong thời gian qua đã là nỗi “bức xúc” của tuổi trẻ (...). Chỉ vì sục sôi lòng yêu nước mà nhiều tầng lớp thanh niên bị tai vạ tù tội trấn áp. Kể cũng lạ, phản đối ngoại bang chiếm đất lấn biển mà mang tội gây rối lọan, tội nghe “bọn xấu” xúi giục... Những cuộc biểu tình ôn hòa của (...) được (...) chiếu cố dẹp ngay. Trong lúc khách Trung Quốc du lịch biểu tình trước lãnh sự quán để ủng hộ chính phủ họ, (...) lại bảo vệ tận tình. Phải chăng đây lòng hiếu khách của (...). Lịch sử sau này sẽ ghi thế nào?

Lúc máy bay đổi hướng từ đại dương vào đất liền, thấy giữa vùng núi non khô cằn, cư dân thưa thớt dọc theo những con đường đất đỏ ngoằn ngoèo, chứng tỏ đời sống cơ cực ngần nào. Suốt đời không hề biết đến thứ âm thanh và ánh đèn màu của Sài Gòn xa hoa. Bên ngoài sân khấu cuộc đời là nỗi lầm than cực nhọc của lớp dân đen mà thời đại nào cũng chỉ biết tung hô để được ăn “bánh vẽ”.

Còn 20 phút máy bay đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, nhìn xuống nhiều hồ nước lớn rải rác giữa núi đồi không cây, nước màu lục đậm, màu đen sì, không hồ nào có nuớc trong. Nhà cửa lưa thưa quanh hồ, một con đường nhựa lớn chạy từ nơi xa đến hồ rồi thôi, chẳng hiểu để làm gì, không lý để lấy nước. Cảnh quan y như một vùng đất chết.

Suốt chuyến bay tôi nghe bà con bàn tán chuyện (...) nhiều ít khi trình giấy tờ ra cửa. Đến bây giờ mà vẫn còn nhiều người cứ muốn dùng tiền mua chuộc sự dễ dãi của chính mình. Đã có đôi vợ chồng trẻ hỏi tôi: “Mình cho bao nhiêu chú, mười hay hai chục”. Tôi trả lời thẳng, không cho gì cả, trừ khi buôn lậu hay mang đồ quốc cấm. Trường hợp mình có nhờ vả anh em khuân vác thì nhiều ít tùy mình, nghĩa là tránh chuyện lo lót.

h1_SFW.jpg[Nhìn xuống sông Hồng]

Hành lý của tôi bao giờ cũng có mục “hàng tạm nhập và tái xuất”. Tôi khai rõ ở phần cuối. Anh (...) trẻ tuổi xem các giấy tờ, nhìn qua diện mạo của tôi rồi hỏi một câu cho có chuyện: “Nơi sinh của chú”... Anh làm việc với cung cách miễn cưỡng, chả có vẻ gì welcome. Trước đây đã có tin cho hay tất cả nhân viên (...) phải đi học một khóa “cười”, họ đã biết cười với du khách một đôi lần. Nhưng rồi nụ cười cứ nhạt dần theo thời gian. Tưởng chừng mỗi lần nở một nụ cười là hao mòn thân thể, suy yếu thần kinh. Họ lại trở về với tính cố hữu “gằm gằm” nét mặt, khiến cho khách muốn nói một câu xã giao cũng ngại ngùng.

Khi nhận hành lí, tôi đứng ở quầy chuyền số 3, mãi không thấy đồ của mình, may có anh công nhân chỉ cho “Hành lí HongKong bên số 1”. Tại sao không có bảng thông báo cho hành khách. Việt Nam nổi tiếng “tự do”, “tự chọn” nên cứ để mặc khách “tự tìm”, thế mới “đậm đà bản sắc dân tộc”. Đã nhiều lần đi về, tôi không thấy khó chịu, nhưng giá khâu tổ chức thêm được mục thông báo nơi nhận hành lý cho từng chuyến bay thì hay hơn. Khá vất vả mới tìm được hành lý của mình. Tôi đẩy xe tìm cửa ít khách để ra cho nhanh thì nhân viên các quầy vẫy tay kêu ơi ới: “Tới đây, tới đây”, y như cảnh đón mời khách nhậu trên đường phố. Tôi hơi ngạc nhiên, không lí họ nhiệt tình lo cho khách đến vậy. Tới một quầy gần nhất, tôi trình giấy tờ cho hai cô nhân viên, học xem xong trả lại tôi và bảo tôi cho hành lý chạy qua máy kiểm tra. Lúc tôi qua nhận đồ thì nhân viên kiểm tra bảo trở lại quầy khai báo. Tôi hơi khó chịu, khai báo đã trình rồi, còn khai gì nữa.

- Chú mang về nhiều máy móc, yêu cầu khai báo.

- Tôi đã khai và đưa trình các cô rồi.

- Đâu, chú đưa lại xem.

Tôi sực nhớ không biết họ đã trả lại cho mình chưa. Vì cứ nghĩ chuyện bình thường nên không để ý, không nghĩ sẽ “khai báo lại”. Lục bốn năm túi áo vẫn chưa thấy, tôi hơi cuống, các cô còn dằn mặt: “Nhiều túi quá chú làm sao nhớ”. Cái áo Jacket 16 túi quả thật như một trận đồ bát quái. Càng nôn càng lạc lối, có khi giấy tờ chỉ để ngay túi ngoài lại đi tìm những chỗ hóc hiểm bí mật. Cuối cùng tôi cũng tìm được, tôi lật xem có đầy đủ, có cả tờ khai hải quan.

- Đây các cô xem lại đi. Tôi đã khai rõ trong này.

Hai cô liếc qua rồi trả lại tôi mà không nói gì. Tôi biết các cô chỉ muốn thả một quả “bong bóng” thăm dò thôi. Tôi cảm ơn và bỏ nhẹ một câu:

- Bận sau các cô vui lòng đọc kỹ giấy tờ khách khai báo để đỡ mất thì giờ cho cả đôi bên.

Tôi cũng hiểu tâm lí những người làm nhiệm vụ khám xét, thỉnh thoảng gây khó một chút, may ra có tí quà. Tôi đã đôi lần làm thứ “nghĩa vụ” đó. Nhưng rồi thấy không nên, “dân ta” nổi tiếng có “văn hóa”, “văn hóa” từ ngõ hẻm đến làng xã thị thành, “nước ta” nổi tiếng “văn minh hiện đại”, tại sao a tòng đẻ ra một thứ lệ làng trái ngược. Tôi lại thấy một điều nghịch lý, những người hạnh họe bao nhiêu lại càng sợ “ánh sáng lẽ phải” bấy nhiêu. Có lần tôi nhờ anh công nhân trong nhà ga đưa hộ va li lên xe đẩy, tôi biếu anh mấy đồng, anh quay mặt qua chỗ khác và nói nhỏ: “Tới chỗ này bác”. Anh tránh vào nơi khuất mới dám nhận. Tại phi trường Los những người đẩy xe cho ông già bà cả, nếu cho tiền “tip” họ nhận công khai. Tại sao xứ mình lại phải “làm cao”, có lẽ do lương tâm không ngay thẳng, việc làm thì chiếu lệ nên thế chăng.

Ngoài nhà ga nắng chói chang, một rừng người đi đón thân nhân chen chúc tại cửa ra quốc tế. Ngược sáng, tôi chỉ thấy lố nhố những bóng đen, nhưng chắc chắn ai cũng hăm hở chờ gặp người thân để nở một nụ cười. Tôi không có ai đợi nên cũng không phải tìm ai, tôi đẩy xe qua mặt mọi người như một kẻ xa lạ. Ra đến lề đường đã có sẵn Taxi. Tài xế là một bác già, tôi phụ một tay đưa hành lí lên xe. Xe chạy, bác tài quay qua hỏi tôi: “Ông không có ai đón à”. – “Không, bác cho tôi về khách sạn Hoàng Khánh đường Bùi Viện quận Nhất”.

Trần Công Nhung

3 - 2008

(1) Pacific Airline quốc nội thường làm mất hành lí, có người mất 4 Laptop, chỉ được an ủi 2 vé khứ hồi HN-SG (tin báo Tuổi Trẻ)

*******************

source

Vien Dong Daily