Thứ Năm, 5 tháng 1, 2012

Tây Ninh Quê Mình Đẹp Lắm



Tuesday, 27 December 2011 18:18

Nước Việt Nam có “truyền thống” ăn bánh tráng. Nhiều em bé không biết bánh tráng là gì. Thiệt ra thì nó đơn giản lắm, lấy gạo xay ra thành bột, dùng bột đó tráng trên một “cái khuôn” là tấm vải quấn tròn trên miệng nồi nuớc đang sôi, khi bột chín thành bánh và mang ra nắng phơi khô…that’s it, đó là bánh tráng.

Nói thì dễ như vậy, kể cả người lớn nếu chưa bao giờ nhìn cách làm khó có thể tưởng tượng được cách làm bánh của người nông dân ở thôn làng Việt Nam. Qua Mỹ, khi nghe “la-dô” quảng cáo một loại bánh …(có cách làm giống bánh tráng) ướt tráng hơi, nhiều bà nhiều chị…ngạc nhiên vì…bánh tráng, hay bánh ướt nếu không tráng bằng hơi …nước không lẽ tráng…nhựa đường? Thì ra, ở Mỹ cái gì cũng văn minh, tiên nghi …cho nên có loại bột pha sẵn mang về nhà quậy nước tráng chảo…như “tráng” bánh xèo…thành bánh ướt, bánh cuốn,…cho nên người ta mới có cái quảng cáo “dị hợm” là bánh ướt tráng hơi. Ở Việt Nam làm gì có cái “bánh tráng ăn liền” như vậy chớ.

Bánh tráng Tây Ninh

Má Năm “Trảng Bàng” nói một hơi dài…làm con cháu há hốc miệng ra nghe quên nhai, quên nuốt. Bà kể về bánh tráng, và cảnh đẹp nhà quê cho lủ nhỏ nó nghe.

“Làm cái gì mà dòm tao như thể là là người cung trăng vậy bay?”

“Ăn đi các con. Ăn rồi má Năm kể chiện cho nghe”

Bà đề cập đến cái bánh tráng…rồi bà kết “lựn”

“Bánh tráng ở đâu tao không biết, nhưng ngon nhứt, công phu nhứt hết thảy chỉ có bánh tráng phơi sương.”

Bà nói có cái lý của bà. Nếu nói về bánh…thì Việt Nam có nhiều loại bánh: Bánh in, bánh ướt, bánh cuốn, bành tầm bì, bánh bột lọc, bánh canh, bánh nổ, bánh thuẩn, bánh lá, bánh đậu xanh, bánh tét, bánh chưng, bánh giò…bánh…biết cơ man nào mà kể; chỉ có bánh tráng là đều trân, nơi nào cũng có, và cũng biết cách làm; tuy nhiên, mỗi miền mỗi khác.

Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, nói đến "bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc" ai cũng biết, đó là “đặc sản” của miệt Giồng Trôm, Bến Tre. Đức Hoà được coi là cái nôi bánh tráng của tỉnh Long An, ở Ninh Thuận có một làng chuyên làm ra một loại bánh tráng nổi tiếng thơm ngon, đó là làng An Thạnh, xã An Hải, vùng Hòa Đa Phú Yên chế biến món thịt heo luộc dùng bánh tráng cuốn với rau sống, Bánh tráng Đại Lộc Quảng Nam cũng nổi tiếng khắp miền…v.v.

Nói thì nói như vậy, cách làm giống nhau, bột gạo tráng trên miếng vải trên nồi nước đang sôi, dùng hơi mà tráng bánh sau đó đem phơi nắng để dành. Chỉ có Trảng Bàng tráng cái bánh mới là kỳ công đặc biệt.

Nếu bắt xe đò tại Sài Gòn, những chuyến xe mà bên hông xe có những tên Trảng Bàng, Gò Dầu, Tây Ninh… hành khách sẽ đi đến nơi đó: Quê hương của món Bánh Canh Trảng Bàng, Báng Tráng Phơi Sương. Đây là một thị trấn nhỏ thuộc tỉnh Tây Ninh-Một tỉnh miền Đông Nam Kỷ. Tây Ninh ở cuối đường quốc lộ I nằm bên bờ Đông của giòng Vàm Cỏ nước xanh leo lẻo; nhưng, Tây Ninh “nắng cháy da người” và đất rẩy, đất trảng – có những địa danh như Trảng Bàng, Trảng Lớn, Trảng Sụp.

Xe qua khỏi Bà Điểm, An Sương, Quang Trung, Hóc Môn, Suối Cụt, Suối Sâu…đến ngả ba vựa heo là đến thị trấn Trảng Bàng. Có cái tên Trảng Bàng, người cố cựu ở đây kể lại, vì nơi đây là cánh đồng mọc nhiều bàng, một loại thân thảo, họ nhà cói, năng, lát...vật liệu dùng làm bao cà ròn, đệm, nóp. Bây giờ có lẽ, nơi ấy, đã không còn nhiều bàng?

Cửa ngõ vào tỉnh Tây Ninh bắt đầu từ Trảng Bàng, cách Sài Gòn 50 cây số. Trảng Bàng, vùng quê hương nổi tiếng với món bánh canh và bánh tráng phơi sương nổi tiếng khắp đất nước-Bánh Canh Trảng Bàng. Chỉ có đến đó mới thưởng thức hết hương vị của món bánh tráng mà không ở nơi nào có thể làm ngon hơn được. Có thể bạn đã đi du lịch nhiều, ăn đủ sơn hào hải vị, “ăn cơm tàu ở nhà tây lấy gái Nhựt”. Bạn đứng chiêm ngưỡng cái tháp Eiffel, ăn món beefsteak, uống rượu Bordeaux, ngắm dòng Potomac, nhìn tháp Bút chì, tượng Nữ Thần Tự Do, thưởng thức món New York Steak…hay bất kỳ món nào khác: Vịt Tứ Xuyên, hùng chuởng, yến sào… xin đến Trảng Bàng một lần để kiểm chứng.

Đầu tiên phải nói đến cái nét đặc thù làm nên bánh tráng Trảng Bàng-Bánh Canh Trảng Bàng. Món bánh canh là do rau ở đây có hương vị đặc biệt...và cái bánh tráng hai lớp đã nướng được phơi sương mềm và dẻo, gạo làm nên bánh cũng chỉ có ở Trảng Bàng. Rau dùng để ăn với bánh canh ngoài các loại như đọt đinh lăng, lá trâm, đọt ổi, lá xoài, lá bứa, rau lụa, giá, hẹ, giấp cá, rau thơm, húng, quế, tía tô…cần phải có 2 loại rau “đặc sản” của Trảng Bàng là (Tai) Vị và Cần Nước…thiếu hai vị này thì bánh tráng hay bánh canh…chỉ còn xác nhưng mất cái hồn, cũng giống như ăn chả cá Thăng Long không có thì là, ăn hủ tíu Mỹ Tho quên rau cần và miếng thịt heo quay, ăn bê thui chấm tương…tàu vị yểu…v.v.

Bánh Canh Trảng Bàng: Một tô bánh canh nhiều hành lá, rắc nhiều tiêu có thêm một cái móng heo…bên cạnh đó một dĩa rau sống, một dĩa thịt heo luộc, một chén nước mắm pha sẵn với đồ chua của cải, cà rốt, và không thể thiếu bánh tráng nướng phơi sương. Cái độc đáo là chỗ đó; cứ nhìn tô canh chứa những cọng bánh trắng ngần, trắng nõn nà như làn da con gái đương thì lấp ló ẩn hiện dưới lớp hành lá xắt hoa xanh biêng biếc, hạt tiêu rải lao xao trên mặt bánh và tất cả nằm bên cạnh dĩa rau mượt mà và bánh tráng phơi sương có màu trắng ngà nõn nà là ta có thể thấy cả cuộc sống tràn đầy trong đó.

Bánh Canh + Bánh Tráng Giò Heo Trảng Bàng

Như đã nói, bánh tráng nướng phơi sương mới là một kỳ công. Loại bánh tráng này rất đặc biệt khi tráng có hai mặt, hai lớp. Bánh phải được nướng lên không cháy, không trở màu mà vẫn giữ được màu trắng trinh nguyên. Bánh làm chín rồi phải đem phơi sương một đêm mới dùng được. Sau khi phơi sương bánh trở nên dẽo nhưng không mất độ dòn cần thiết của cái bánh tráng. Cái khéo là chỗ đó. Mà cũng khó tìm ở nơi nào khác loại bánh với các giai đoạn đặc biệt nầy. Bánh tráng phơi sương là thứ bánh tráng độc đáo, được chế biến công phu. Người Trảng Bàng cho biết bánh phải được làm bằng gạo “Nàng Miên” của Tây Ninh, thêm chút muối để khi ăn có vị đậm hơn, và tráng bánh dày hơn các loại bánh tráng khác.

Tiếp tục đi về Tây Ninh, qua khỏi Trảng Bàng khoảng 10 cây số đến Gò Dầu, trước khi vào Gò Dầu đi qua cây cầu, (cây cầu đã được xây mới rộng hơn và bề thế hơn.) Đến ngả 3 rẻ về bên trái đi Mộc Bài qua Miên. Ở tại biên giới có siêu thị miễn thuế. Tại đây có thể mua những món mà ở những siêu thị lớn ở Sài Gòn không thể nào có được. Đồ của Mỹ và giá cũng của Mỹ. Mộc Bài là nơi làm ăn của mọi tầng lớp; có những dịch vụ rất “độc” như cho mướn thẻ Chứng Minh Nhân Dân (ID Card) nhẹ nhàng và có tiền, hoặc chuyên chở hàng qua biên giới..v.v. Ngoài ra Gò Dầu còn nổi tiếng với muối ớt (khi nào có dịp kể sau).

Chạy thêm 40 cây số theo quốc lộ đã đến trung tâm thị xã Tây Ninh. Tây Ninh bây giờ khác xưa, nhiều nhà mới xây cất, thị xã dường như đổi mới, nhưng con người Tây Ninh vẫn hồn hậu như xưa. Con đường Gia Long dẫn đến cầu Quan thay ngôi đổi chủ, chỉ còn cây cầu Quan là cũ thôi (1924), hai bên thành cầu vẫn còn 3 vòng bán nguyệt, nước sông đục hơn xưa, bên kia cầu vẫn là những ngôi nhà cũ kỷ, mái lợp âm dương đang chen lấn với sự đổi thay, cố giấu tiếng thở dài.

Long Hoa như xưa, Tòa Thánh Tây Ninh đón nhiều du khách. Cửa Chánh Môn vẫn sừng sững thi gan cùng tuế nguyệt.

Từ thị xã Tây Ninh khoảng 8-9 cây số là đến núi Bà Đen, có độ cao 986m, được xem là nơi cao nhất của Nam Kỳ. Núi Bà Đen là điểm kết thúc của dãy Trường Sơn, như con rồng uốn khúc che chở Việt Nam, đến Tây Ninh là phần đuôi rồng, và ẩn hiện Thất Sơn là những phần cuối cùng của long mạch Việt Nam, sanh chín cửa Cửu Long.

Núi Bà Đen với chùa chiền linh thiêng. Núi Bà Đen không còn “kín cổng cao tường” như xưa, nay đã thành trung tâm thu hút khách phương xa hàng năm đón hàng triệu du khách. Có dây cáp treo đưa du khách lên đỉnh, viếng chủa, hành hương, đi bằng cáp treo lên Điện Bà chỉ 15 phút. Khi xuống có thể đi bằng máng trượt. Cũng có thể dùng đường bộ lên núi khoảng 3,4 tiếng đồng hồ. Khi cáp treo đi lên núi du khách có thể nhìn ở bên tay phải xa xa phía chân trời là hồ Dầu Tiếng. Là một hồ nhân tạo cách thị xã Tây Ninh 25 cây số về hướng đông, với diện tích mặt nước là 270 cây số vuông, và 45.6 cây số vuông đất nửa ngập nước, dung tích chứa 1.58 tỷ mét khối nước. Hồ có 2 kinh chính là Kinh Đông và Kinh Tây để tưới cho các cánh đồng mía, mì và lúa cho Tây Ninh. Ngoài ra còn cung cấp nước cho Củ Chi và Sài Gòn.

Núi Bà Đen còn 2 món ăn đặc biệt mà ít người biết là ốc núi và thằn lằn. Món ốc thì có hương vị đặc biệt thơm thơm. Nhưng món thằn lằn núi …thì …món này phái nữ không dám ăn. Nói về hình dáng, Thằn Lằn núi giống con thằn lằn ở nhà, nhưng bự hơn rất nhiều, gấp 2, gấp 3. Thằn lằn núi chiên, ăn với muối tiêu chanh. Gần đây vì bắt quá nhiều nên bị cấm. Muốn bắt thằn lằn thì phải câu mới được.

Sự Tích Núi Bà Đen: Nổi tiếng phong cảnh hữu tình và nhiều huyền thoại tại Tây Ninh. Núi Bà Đen là ngọn núi cao nhất miền Đông Nam Phần, nằm cách thị xã Tây Ninh 8-9 km về phía Tây Bắc.

Núi Bà trải rộng 24 km², gồm 3 ngọn núi tạo thành: Núi Heo, Núi Phụng, Núi Bà Đen. Núi Bà Đen cao nhất. Chùa Điện Bà có chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng, chùa Hang và một số hang động được các tăng ni, phật tử sửa chữa làm nơi thờ phượng như động Thanh Long, động Ông Hổ, động Ba Cô, động Ba Tuần, động Thiên Thai, động Ông Tà... Ngọn núi này thu hút khách thập phương vì cảnh núi non hùng vĩ, nhiều hang động, nhiều ngôi chùa nguy nga tráng lệ. Trước đây vốn là nơi ẩn cư của nhiều sư sãi. Đặc biệt, nơi đây còn gắn liền với câu chuyện truyền kỳ, nàng Lý Thị Thiên Hương (Bà Đen).

Tương truyền rằng vào khoảng nửa cuối thế kỷ 18, những cuộc tranh giành giữa Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn, dân lâm vào cảnh khốn khổ lầm than. Nguyễn Huệ dẹp thù trong giặc ngoài. Bấy giờ có người thanh niên tên Lê Sỹ Triệt, quê ở Quang Hóa (Trảng Bàng ngày nay) tài cao, chí lớn, vì nước vì nhà nên chia tay người yêu là Lý Thị Thiên Hương lên đường phò Nguyễn Huệ giữ nước. Lý Thị Thiên Hương là cô gái xinh đẹp và có đức hạnh (Người ta nói gái Trảng Bàng đẹp nhất Tây Ninh). Người yêu lên đường vì nghĩa lớn, cô ở nhà sống trong vòng vây của cường hào ác bá nhưng vẫn một lòng chung thủy với người yêu. Một hôm, cô bị cưỡng bức, vì giữ tiết hạnh nên cô lên núi gieo mình xuống núi quyên sinh. Sau đó ít lâu, Thiên Hương về báo mộng cho sư trụ trì biết nơi thân thể cô đang bị nắng, gió, sương bào mòn đen cháy nhưng không hủy nát. Thi thể cô được đem về mai táng, phụng thờ. Tin này lan rộng ra, và từng đoàn người về tụ họp trên núi để lễ bái và cầu nguyện vì sự linh thiêng của người con gái tiết hạnh, xin cô phù hộ độ trì. Nhà chùa đã cho lập đền thờ riêng để người ta cúng bái. Việc hành hương về chùa vào mùa xuân đã trở thành tập tục quen thuộc từ đây.

Tây Ninh quê mình đẹp lắm, có những ai chưa đến Tây Ninh, có dịp ghé qua 1 lần cho biết. Đến Trảng Bàng ăn tô bánh canh, dùng thử bánh tráng phơi sương, ăn trái mít ở Mít Một, thăm Tòa Thánh, đi qua Cầu Quan, đến Điện Bà… để thấy nơi quê hương đó còn những điếu đáng nhớ.

Lê Bình

source

Calitoday.com

Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011

Tà Áo Trắng


Hoàng Nhã

Tà Áo Trắng


... Nhớ ngày nao áo trắng
Trên nắng mai thướt tha
Ửng hồng đôi gò má
Khi anh nhìn người ta

Trưa nào anh lại đón
Đưa ra ngoài công viên
Nắng trưa chạm vào nón
Che trước ngực làm duyên

Buổi chiều anh đưa về
Muốn đường dài thêm ghê
Mắc cỡ em chẳng nói
Đường dốc cũng gồ ghề

Mẹ chẳng cho đi tối
Chúng mình ngồi trước nhà
Trăng tình soi ngập lối
Quỳnh đêm ấy nở hoa

Em vẫn áo dài trắng
Trăng đêm vẫn chiếu hòa
Quỳnh hương vẫn nở hoa
Còn anh sao lại vắng?




Được bạn: ND đưa lên
vào ngày: 14 tháng 12 năm 2011
source
Việt NamThư Quán
See More

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2011

Đền thờ công chúa Huyền Trân



(VienDongDaily.Com - 02/12/2011)
Từ ngoài nhìn vào chính diện: Cổng, Đền và Điện thờ một hàng thẳng cao dần theo thế đất, cân đối với toàn cảnh, uy nghiêm trang trọng.
Bài và ảnh: Trần Công Nhung

Ngay chỗ ngả ba rẽ vào khu di tích Chín Hầm, đi thẳng là đến khu Trung Tâm Văn Hóa Huyền Trân (1), nơi có đền thờ Công Chúa và điện thờ Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông. Khu Đền và Điện thờ xây dựng trên một diện tích rộng 28 hecta. Tổng số vốn đầu tư khoảng 6,8 tỷ đồng
Lên Đền qua 4 trụ biểu cao lớn, chân có Lân chầu, chóp đắp hoa búp. Phối trí mẫu trụ đơn giản, chỉ có câu đối và chóp trụ thếp vàng còn toàn bộ màu xám xi măng, trông trang nhã và nghệ thuật. Hai trụ giữa có hai câu đối chữ Hán, hai trụ ngoài dịch âm:

Ô châu hoang địa biến tác Thuận Hóa thần kinh nhất cõi sơn hà cẩm tú
Nhân Tông doãn hứa thành vi đạo tái quyết sách thiên trùng ân nghĩa khắc minh.


Nguyễn Quan Hà dịch:
Cảm nghĩ Ô Lý đất xa, giờ đã kinh thành Thuận-Hóa, non sông một dải,
Ghi lòng Nhân Tông hứa cũ, thoắt hóa non sông kế sách, ân nghĩa muôn đời!


Hai câu đối trên hai trụ biểu

Bốn trụ biểu chia làm ba lối đi lát gạch đỏ, có dải bồn hoa ngăn cách, lối giữa rộng gấp mấy lần hai bên. Một lư hương sơn vàng cao cả mét đặt ngay lối đi chính. Từ ngoài nhìn vào chính diện: Cổng, Đền và Điện thờ một hàng thẳng cao dần theo thế đất, cân đối với toàn cảnh, uy nghiêm trang trọng. Sau lưng khu Đền là núi Ngũ Phong, rừng cây mượt mà với bầu trời xanh phơn phớt mây.


Đền thờ Công Chúa

Cảnh trí êm đềm lắng đọng, không bị bất cứ thứ gì quấy rầy (2), đây là giây phút thú vị dành cho những ai đi tìm danh lam thắng tích, tìm ánh hào quang của lịch sử nghìn năm. Tôi có một cảm giác thật lạ, như hãnh diện chứng kiến trang sử đẹp lung linh, trang sử mở rộng quê hương bằng một mối tình. Tôi bồi hồi lắng mình vào quá khứ để chiêm ngưỡng trọn vẹn vẻ đẹp của đền đài trước mặt và tự hào về một khúc sử ca bi tráng của tiền nhân. Nhưng chỉ trong giây lát, khi quay về với thực tại không khỏi buồn cho đất nước hôm nay. Ngày nay phụ nữ Việt Nam nổi tiếng khắp nơi nhưng vinh thì ít, nhục thì nhiều. Nhiều chị em không vì quốc gia đại sự mà chỉ vì miếng cơm manh áo, vì cha già mẹ ốm phải “hy sinh” làm một món hàng trao đổi kiếm sống để rồi không có ngày trở về. Lỗi vì ai!


Trụ biểu trước Đền

Qua sân ngoại Đền khá rộng, có bồn cỏ hoa hai bên nhưng chưa được cắt tỉa đúng cách, cây trang trí hoa viên còn non chưa thành hình, trước cổng vào Đền hai bên đặt mấy chiếc ché (lu) gốm nung, phải chăng muốn gợi lại đôi nét về Chế Mân? Nếu thế, tưởng nên sử dụng sản phẩm gốm Champa Ninh Thuận (3), thích hợp và ý nghĩa hơn.
Lên đền thờ công chúa Huyền Trần qua hai cổng. Cổng đầu tiên là Phước Sơn Môn, xây kiểu vọng lâu (cách điệu) hai tầng 8 mái, hoa văn họa tiết rất tinh tế do tay nghề của bậc thầy nghệ nhân cung đình thuở trước truyền lại. Vòm cổng cũng như những ô trống thượng lâu đều đắp Rồng Lân trang trí hài hòa. Nhìn kỹ chi tiết vảy rồng, móng rồng, râu rồng, toàn bộ được chăm chút vô cùng cẩn thận, không như những nơi khác tạc khắc tùy tiện cho có. Mặt tiền cổng vào là cả một tác phẩm nghệ thuật cổ điển. Nổi bật là sự kết hợp giữa màu sắc các công trình, màu khói nhang làm nền cho những nét cần tô điểm bằng màu vàng của nhà Phật, một phong cách trang nhã không khuấy động tâm tưởng người xem, trái lại đưa dần du khách vào cõi tĩnh lặng Thiên Thai, xa hẳn thứ màu sắc lòe loẹt xanh đỏ, thứ nghệ thuật đồng quê dân dã ồn ào.
Trong cổng là con đường lát đá lục lăng nhiều màu, hai hồ nước hai bên (chưa thả sen súng) có thành lan can. Tại sao lại lát đá màu, đủ hình dáng, đang ngang bằng đứng đắn nghiêm trang lại chen vào hình dáng xiên xẹo méo mó, làm hỏng sự nhịp nhàng về đường nét, màu sắc, của cấu trúc tổng thể. Thiết nghĩ, cứ dùng gạch thường hay gạch Bát Tràng mà hay. Năm 2008 công trình xây dựng Đền còn dang dở, trên thành lan can đặt nhiều chậu hoa đủ loại: Sống đời, bông giấy, bông trang, lá màu, thần tài, v.v., trang trí như ở một nhà hàng. Nay đã dẹp bỏ, theo tôi, nên đặt một số kiểng vừa (medium bonsai) sẽ tạo được nét cổ kính trầm mặc, sẽ mang lại cho du khách nhiều cảm xúc thi vị nhẹ nhàng hơn (4), phản ảnh nét văn hóa Á Đông.


Tam Quan

Tam Quan chính lên đền, rộng lớn, cũng dạng vọng lâu có 3 lối đi như thường thấy, ngoài nhìn vào có bốn chữ Hán: Huyền Trân Công Chúa Điện, trong nhìn ra cũng bốn chữ này viết bằng quốc ngữ. Trước Đền là sân lát gạch Bát Tràng, trưng bày nhiều cây cảnh tuy có lớn nhưng bình dân. Ở một khía cạnh nào đó không tăng thêm vẻ tôn nghiêm của ngôi đền. Việc trang trí một câu đối, một bức hoành phi hay một chậu kiểng đòi hỏi nhiều yếu tố nghệ thuật chuyên môn mới không làm hỏng giá trị đại thể của công trình.


Bàn thờ Công Chúa

Trong Đền thiết trí bàn thờ đầy đủ tam sự ngũ sự, liễn đối hoành phi, chạm khắc tinh xảo, sơn thếp rỡ ràng oai nghi đúng mức, không quá rườm rà (nhiều đền thờ miền Bắc thường phạm lỗi ôm đồm). Tượng Công Chúa trong trang phục áo dài, đầu đội khăn, nét mặt hiền từ, và đúng độ tuổi khi Công Chúa sang Chiêm Thành (nhiều nơi tạc tượng chỉ để cho có, đã vô hồn còn không đúng tuổi). Thông thường tượng thờ sơn son thếp vàng, tuy nhiên theo tôi, ở đây nếu được một nhà điêu khắc có tâm hồn (cỡ Lê Thành Nhơn làm tượng cụ Phan Bội Châu) tạc tượng Công Chúa bằng một khối gỗ thị đen tuyền, có lẽ thể hiện sâu sắc hơn về ý nghĩa cuộc đời và sự nghiệp của Công Chúa. Bởi sau khi hoàn mãn sứ mạng, Công Chúa đã trở thành vị Bồ Tát, không còn lưu luyến cõi Ta Bà, lẽ nào lại ham “lầu son gác tía”! Trên bàn thờ có bài vị chữ Hán, anh Thanh Dần trông coi Đền đọc cho tôi ghi:
“Phụng vị Khai Quốc An Dân, Huyền Trân Công Chúa Trai Tĩnh Trung Đẳng Tôn Thần”. Hai bên có hai câu đối chữ Hán thếp vàng:

Bồ liễu cô thân Nam hướng Đồ Thành mã đầu chướng vụ trùng hồi thủ
Cơ đồ vạn cổ Bắc cố phụng khuyết nhãn đề giang sơn tái cứu tham


Việt ngữ (Nguyễn Quang Hà):
Một thân sang chốn Đồ-bàn, đất cũ mãi nhìn về, mù che đầu ngựa
Muôn thuở mệnh vâng Bắc-khuyết, nước xưa luôn nhớ lại, lệ chắn lòng người.


Sau Đền thờ có đài lục giác, đặt một tượng Công Chúa trong bộ áo nhà tu màu trắng, dáng hiền từ đạo hạnh, tay phải cầm hoa sen búp, tay trái lần tràng hạt, như ngài Bồ Tát Quán Thế Âm (chỉ khác hoa sen thay vì thủy bình).
Đền thờ Huyền Trân Công Chúa tại thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, thành phố Huế có thể nói là một công trình lịch sử xứng đáng với công trạng của Công Chúa. Nghệ thuật kiến trúc thời Trần được thể hiện khá rõ nét. Hy vọng với ngày tháng, Đền sẽ sáng đẹp hơn, thu hút du khách mỗi năm mỗi nhiều, hài hòa với bao nhiêu đền đài lăng tẩm cố đô, những chứng tích lịch sử văn hóa nước nhà tồn tại hàng trăm năm qua. Tuy thời cuộc có thịnh suy nhưng giá trị lịch sử vẫn không thể bị xóa nhòa chối bỏ, nhất là đối với người con xứ Huế. Đến chiêm ngưỡng đền thờ Công Chúa Huyền Trân, tôi cảm thấy hãnh diện về một trang sử của nước nhà. Mong sao đừng để Đền đi vào vết xe đổ của những di tích khác, xây dựng chỉ để khai thác kinh doanh, vô tình làm phai mờ nét son lịch sử, thiệt thòi cho con cháu mai sau.

Tháng 9 - 2011

(1) Người làm tuyên truyền hay dùng chữ nghĩa lòe thiên hạ. Đã không ít người nhận xét về điều này. Văn hóa và nghệ thuật đôi khi bị cưỡng bức, lợi dụng cách quá đáng. Biểu ngữ văn minh, văn hóa, thân thiện… căng đỏ đường nhưng cứ nhìn lối chạy xe, sinh hoạt đường phố thì biết như thế nào. Một người bị tai nạn, người đi đường xúm hôi của, không ai giúp nạn nhân một tay (tin báo). Như vậy gọi là văn hóa?
(2) Thường các điểm du lịch người bán hàng rong chèo néo quấy rầy khách rất khiếm nhã.
(3) Làng gốm Bàu Trúc đã in.
(4) Có lẽ do trở ngại trộm cắp không thực hiện được (dù đã được tiếng một nước “đạt chuẩn văn hóa”).
Bia Ký: Đền Công Chúa Huyền Trân
Thường nghe: Người có công đức lớn thì được phong thần, thờ phụng. Công đức càng lớn, đẳng thần càng cao. Sống tận lực vì nước, thác hiển thần hộ quốc an dân. Người như vậy, thần như vậy ắt được lập đền, dựng bia đá ghi công tích đặc biệt, lưu truyền việc tốt đời sau.

Công chúa Huyền Trân sinh năm Đinh Hợi, 1287, là ái nữ của vua Trần Nhân Tông và Khâm Từ Hoàng hậu, quê làng Tức Mặc, tỉnh Nam Định. Từ lúc thiếu thời đến tuổi cài trâm, Công chúa nổi tiếng thiên hương, tư chất thông minh, hiếu nghĩa vẹn toàn, ví như huyền ngọc quốc bảo.
Mùa hạ, tháng 6 năm Bính Ngọ, 1306, thực hiện lời hứa của vua Nhân Tông, lấy hòa hiếu với lân bang làm căn bản, Huyền Trân sang Chiêm quốc làm dâu, trở thành Hoàng hậu Paramesvari. Đáp lại mối thâm tình ấy, trước đó mấy tháng, vua Chế Mân đã cắt đất hai châu Ô, Lý dâng lên nhạc phụ Thượng Hoàng làm lễ dẫn cưới. Kể từ đấy, hai châu này được sáp nhập vào bản đồ Đại Việt, tức vùng đất phía nam sông Hiếu, tỉnh Quảng Trị, đến bờ bắc sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam ngày nay. (1)
Mùa hạ, tháng 5 năm Đinh Mùi, 1307, Chế Mân qua đời. Tháng 9, người Chiêm sang nước ta dâng voi trắng, báo tang. Theo tục của Chiêm Thành “hễ vua chết thì hoàng hậu phải vào đàn thiêu để chết theo”. Vua Anh Tông biết vậy, sợ Công chúa bị hại; tháng 10, vua sai đại thần sang Đồ Bàn viếng, mong cầu giải cứu Huyền Trân.
Mùa thu, tháng 8 năm Mậu Thân, 1308, Công chúa về tới Thăng Long.

Theo di mệnh của Thượng hoàng Nhân Tông, năm sau Công chúa xuất gia đầu Phật ở núi Trâu Sơn, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Dưới sự ấn chứng của Quốc sư Bảo Phác, Công chúa thọ Bồ tát giới, được ban pháp danh Hương Tràng.
Cuối năm Tân Hợi, 1311, thừa mệnh Bổn sư, Hương Tràng xuống núi, cùng người thị nữ trước đây, bấy giờ đã qui y, đến làng Hổ Sơn, huyện Thiên Bản, nay thuộc tỉnh Nam Định, lập am dưới chân núi Hổ để tu hành. Thấm thoắt mấy hạ, duyên lành phổ độ chúng sinh, am tranh trở thành điện Phật, tức chùa Nộn Sơn, tên chữ Quảng Nghiêm Tự.
Trụ trì chùa Nộn Sơn, Ni sư khiêm nhẫn chăm lo Phật sự, tạo lập ruộng vườn, giáo hóa cho lớp đồng ấu, làm thuốc cứu chữa dân lành. Những lúc nhàn rỗi, Ni sư thường đến tận các thôn ấp trong vùng, khuyến dân thực hành phép tu Thập thiện... Công đức vô lượng của Ni Sư được nhân dân hết lòng kính ngưỡng.
Mấy chục mùa kiết hạ, đến khi đắc pháp, mọi sự viên thành. Ngày 9 tháng giêng năm Canh Thìn, 1340, Ni sư xã báo an tường, thảnh thơi trở về cõi Tịnh. Dân chúng vô cùng thương tiếc, tôn làm Thần Mẫu, lập đền thờ cạnh chùa Nộn Sơn.

Một đời Công chúa tận sức với nước, khi thác hiển linh phò trợ giúp dân. Chính vì vậy mà các triều đại sau đều sắc phong Công chúa làm thần hộ quốc. Vào đầu thế kỷ XX, các vua nhà Nguyễn lại ban cho Công chúa chiếu báu nâng bậc tăng thêm là “Trai Tĩnh Trung Đẳng Thần”.
Nay vừa gặp vận: Mùa xuân Bính Tuất, 2006, kỷ niệm 700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế, nhớ ơn công đức của Huyền Trân năm xưa dấn thân ngàn dặm đi mở nước; thừa lệnh chính quyền, hợp sức lòng dân, Công ty Du lịch Hương Giang đã khởi dựng đền thờ Công chúa, vừa đúng một năm thì an vị tượng thần.
Ngôi đền tọa lạc về phía nam sông Hương, cách kinh thành Huế chừng vài dặm, tương truyền là nơi danh thắng phước địa. Kiến trúc theo lối truyền thống: trụ biểu vươn cao, nền móng kiên cố, lương đống vững chắc, điện thờ tôn nghiêm. Phía sau, thế núi Ngũ Phong trấn giữ. Phía trước, dòng tiểu khê quầy thành hồ Trường Xuân soi bóng nhật nguyệt, sơn mạch tả hữu trườn xuống như hai bức trường thành. Nội điện đặt tượng Huyền Trân, hậu điện phối thờ các bậc công thần mở nước. Sân sau xây lầu bát giác, dựng tượng Ni sư, mở vườn Bồ Đề; sau nữa là điện Trúc Lâm, nhà đọc sách, tượng Di Lặc, miếu Sơn thần, Thủy thần, gác chuông Hòa Bình… tất cả tạo thành một trung tâm văn hóa tâm linh ở chốn Thiên Thai…
Ngẫm lại, thời gian tạo lập ngôi đền không thể sớm chiều. Nhờ uy lực của thần và cũng nhờ ở sức người tỏ niềm tri ân mới làm nên.
Thì ra, từ xưa đến nay, bậc hiền nhân dày công nghiệp với đất nước ắt được phụng thờ, chưa hề bị lãng quên bao giờ.
Những lần đến dâng hương, nghe chuyện nhiệm mầu ở chốn Bồng Lai này khiến nhiều người lấy làm lạ. Phải chăng: Núi không cần cao, có tiên ắt thiêng. Sông không cần sâu, rồng chầu thành nổi tiếng. Có lẽ nơi đây, Thần nữ đã thị hiện. Bởi vậy, ngôi đền mới dựng mà đã linh ứng lan truyền.
Nghĩ rằng thần thiêng vốn do tú khí tinh anh của đất trời hun đúc, ngầm phò giúp cho cơ đồ xã tắc, giữ nền phúc lớn, ngày mỗi thêm xán lạn vững bền.
Trước đền Công chúa Huyền Trân, kẻ hậu sinh nguyện trọn lòng thành, đốt nén tâm hương, kính soạn bia ký này.


Ngày tốt, trọng thu Đinh Hợi
Phụng soạn Phụng lập

Dương Phước Thu Công Ty Du Lịch Hương Giang

(1) Không hiểu tại sao bia ký lại ghi địa danh 2 châu Ô, Lý từ Quảng Trị vào tận sông Thu Bồn Quảng Nam? Trong khi các nguồn sử liệu khác đều ghi Quảng Trị và Thừa Thiên (!)



Bia ký và Lễ hội


Bồ Tát Hương Tràng

Sách đã in: Quê Hương Qua Ống Kính tập 1 đến tập 12, Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng, Mùa Nước Lũ (Truyện), Về Nhiếp Ảnh, Thăng Trầm (chuyện buồn vui một đời người), sách dày trên 200 trang, có 8 phụ bản ảnh màu và cả trăm ảnh đen trắng.
Độc giả muốn có sách nguyên bộ 12 tập (discount), xin liên lạc:

Tòa soạn Nhật Báo Viễn Đông, 14891 Moran Street, Westminter, CA 92683.
Điện thoại: 714-379-2851.
Những sách khác, liên lạc tác giả qua P.O. Box 254, Lawndale, CA 90260. Website: www.ltcn.net

source
VienDongDaily

Thứ Hai, 14 tháng 11, 2011

Cảnh biển Cam Ranh


Cam Ranh ngày nay
(VienDongDaily.Com - 28/10/2011)
Cam Ranh tiếng là thành phố (loại 3) nhưng xe cộ không bao nhiêu, chỉ trục lộ chính, QL 1A thỉnh thoảng có xe đường dài chạy qua, gây ồn ào chốc lát.
Bài và ảnh: Trần Công Nhung


Cảnh biển Cam Ranh

Hôm sau tôi dậy sớm, chạy vào cầu Trà Long phía nam thành phố Cam Ranh. Sáng tinh mơ, thành phố nào cũng tương đối yên tĩnh mát mẻ. Cam Ranh tiếng là thành phố (loại 3) nhưng xe cộ không bao nhiêu, chỉ trục lộ chính, QL 1A thỉnh thoảng có xe đường dài chạy qua, gây ồn ào chốc lát. Tôi dừng nơi cầu, chụp mấy tấm ảnh của xóm chài bên hữu ngạn (nay một số biến thành quán nhậu) rồi quay lại rẽ xuống con đường nhỏ về hướng biển. Hình ảnh chung chung sinh hoạt buổi sáng, nơi nào cũng giống nhau: Cà phê ăn sáng. Đa số quán lề đường, hoặc hàng gánh bày trên vỉa hè: Bún riêu, bún bò, cháo… Dân cà phê thì dài dài hai bên hàng phố. Phải phục người mình, điểm tâm bát bún, uống ly cà phê mà nửa ngày chưa dứt, nhưng ngả tư đèn đỏ còn 10 giây đã nhấn còi giục nhau chạy. Thế giới ít có dân tộc nào nhàn nhã như người Việt Nam. Ăn uống, buôn bán, từ trên lề xuống lòng đường, họp chợ ngay bảng cấm, chẳng ai nói gì. Nếu có chú công an cảnh sát nào rắn mắt đi qua thì người dân lại “dấm dúi” tí ti là xong. Luật pháp Việt Nam “linh động dễ sống” chứ không rạch ròi cứng ngắc như xứ tư bản.
Ra đến mé biển mới thấy hết những sinh hoạt của dân chài, nhà cửa chống đỡ xiêu vẹo, bến bãi chẳng ra bến bãi, vừa bến thuyền vừa bến rác. Nhưng tách ra, cảnh vẫn đẹp nhờ “chất liệu” đơn sơ mộc mạc của đời sống. Một góc nhà sàn soi bóng lung linh, đôi ghe câu neo nghỉ gần bờ, ngoài xa vài ba tàu đánh cá, đến hậu cảnh dãy đảo xanh, nền trời mấy vệt mây mỏng dài chéo góc. Nghệ thuật không cần cao sang, đơn sơ mà gợi cảm.
Đi lần về phía có một bãi đóng tàu, trông lộn xộn không chuyên nghiệp tí nào. Đây là bãi đóng tàu tư nhân: Bà Né. Nhiều tàu đánh cá nằm ụ mà không thấy thợ thầy làm việc. Ra phía ngoài nữa là cầu tàu, loại tàu 8 máy đậu san sát. Bạn đánh cá phần lớn là trai tráng khỏe mạnh, họ đang túm tụm trên mui tàu uống cá phê. Tôi hỏi chuyện một thanh niên:
- Tàu Cam Ranh có đánh cá xa bờ?
- Dạ có, xa bờ mới có cá.
- Có khi nào bị “tàu lạ” bắt chưa?
- Dạ, không ra Hoàng Sa nên không bị. Tàu Quảng Ngãi bị nhiều vì họ đánh sát Hoàng Sa.
- Tàu mình thường đánh cá gì nhiều nhất?
- Cá chuồn, cá thu.


Bến cá mồi

Nhìn tàu đánh cá lớp lớp hàng hàng tôi không nghĩ Cam Ranh lại nhiều tàu như thế mà toàn tàu lớn. Thì ra có cả tàu Quảng Ngãi vào neo. Tuy nhiều tàu cập bến nhưng không có cảnh mua bán như ở cầu tàu Cửa Bé hay Lương Sơn (Nha Trang). Tôi trở lên QL1A ra xem cảng Cam Ranh. Trên đường ra cảng lại gặp một bến cá khá tấp nập ồn nào, ngay trên đường Nguyễn Trọng Kỷ. Tôi lấy làm lạ, không phải bến tàu sao cá đâu tuôn về nhiều thế mà toàn cá nhỏ. Xe ba gác, xe máy thồ, xe đạp, xích lô…bạn hàng xúm nhau cân mua đưa lên xe, họ chen nhau, mặc cả, la lối huyên náo. Màu sắc những vỉ nhựa đựng cá vàng đỏ thật vui mắt. Ngay đó có nhà máy xay nước đá để cung cấp cho con buôn ủ cá trước khi chở đi. Tôi quan sát, chụp ảnh chẳng ai để ý, tôi hỏi người đứng cạnh:
- Sao đây không phải bến tàu, cá đâu nhiều vậy, mà không thấy cá lớn.
- Đây là cá tạp nham các tỉnh chở về bán cho những nhà nuôi cá.
- Họ nuôi cá gì?
- Cá chẻm, cá mú, cá rô Phi, cá lóc.
Cam Ranh ngày nay có hẳn một ngành nuôi cá công nghiệp. Nhưng nuôi cá cho ăn cá thế cũng tốt hơn thức ăn tăng trọng. Bây giờ nhà chăn nuôi nào cũng dùng thực phẩm tăng trọng thúc ép heo, gà, cá lớn nhanh. Người ăn vào cũng gián tiếp ảnh hưởng, cứ nhìn những trẻ con mới 8, 9 tuổi mà thân hình đã mập phì là biết.

Phố Đá Bạc

Trước khi rẽ qua đường vào Cảng Cam Ranh, có phố Đá Bạc, tôi không ngờ con phố vắng vẻ buồn hiu như vậy, cứ như đường phố thời chiến tranh. Vắng đến rợn người, tôi chỉ chạy một đoạn rồi quay lui ra Cảng. Vào cổng tôi bị “bảo vệ” chận lại. Người ngoài không được phép vào. Tôi hỏi đây không phải khu quân sự sao cấm? Có bảng cấm đâu? Người gác cổng gầm gừ “Cảng sản xuất cấm vào”. Nhớ mấy tên gác siêu thị (Sài Gòn) đánh học sinh mềm xương, tôi im lặng lui xe. Biết đâu trong đó không sản xuất, mua bán thứ quốc cấm. Tránh cho yên thân.


Quán “Gà Chỉ”

Tôi đi tìm quán “gà chỉ”. Lời đồn “gà chỉ” là món gà đặc biệt của Cam Ranh. Thực tình thì tìm cho biết chứ không hẳn chuyện ăn uống. Mấy năm trước, tôi đã đi tìm thưởng thức món gà nấu lá giang ở tận xã Ninh Quang huyện Ninh Hòa (Khánh Hòa). Đi để biết cảnh biết người chứ món ngon thì chưa chắc đã có gì hấp dẫn. Do lời đề nghị của một tay văn nghệ địa phương, tôi cứ tưởng chỉ hai người, anh lại kéo thêm cô bồ. Lúc ghé trạm xăng anh nói nhỏ vào tai tôi: “Đổ cho cổ bình xăng cho cổ vui”, ra quán Gió gọi thêm một bạn, ra Ninh Hòa rủ thêm hai ông (ngành văn hóa) kéo vào quán cà phê. Ra đi 2 người giữa đường thành 6, đến nơi không biết sẽ bao nhiêu. Đây cũng là kiểu “đậm đà bản sắc dân tộc”. Nhưng gà lá giang cũng chẳng có gì đặc biệt, chỉ thêm vị chua chua của lá rừng mà thôi. “Gà Chỉ” Cam Ranh không biết ra sao. Hỏi đường một ông xe ôm, ông đòi 10 nghìn dẫn đi. Chẳng phải kỳ kèo, nhanh cho được việc. Chạy theo xe ôm chưa được 5 phút, đã thấy quán “Gà Chỉ”. Một đoạn dài trên đường Lê Duẩn, con đường như đất đồi mới khai hoang lại nhiều quán nhậu. Hầu như các quán đều chung món gà chỉ. Tôi vào quán Hai Lễ, quán vắng khách, mỗi bà già ngồi dưới góc xoài. Nghe tiếng tôi hỏi, có chị đàn bà trong nhà bước ra, chị cho biết thế nào là “Gà Chỉ”. Chị đưa tôi ra xem chuồng gà vườn sau, chị nói “Gà nuôi thả trong vườn, mỗi ngày bắt nhốt chuồng mươi con, cho ăn thóc. Khách tùy thích lựa, chỉ con nào bắt làm thịt con đó”. Tôi cười: “Gà chỉ nghĩa là chỉ con gà mình thích”.


Xóm chài

- Rồi nấu những món gì?
- Vài món đơn giản như gà hấp, nướng, nấu lá giang, luộc, bóp gỏi, chiên mắm, nấu cháo, rang muối… Tùy khách yêu cầu.
- Thời gian làm lâu mau? Giá cả thế nào?
- Từ 20 đến 30 phút. Con 1kg 500g làm thành món giá 195 ngàn.
- Nhanh vậy làm sao kịp?
- Mỗi người một khâu, nhanh thôi.
- Như vậy, muốn ăn gà phải vài ba người?
- Dạ.
- Chị biết quán nào có món gà làm bán sẵn chỉ dùm.
- Chú ra quán Vui ngoài QL 1 có cơm gà cũng ngon. Quán nớ đông khách.
Nghe người đàn bà nói giọng Huế, tôi hỏi thêm trước khi đi:
- Chị vô đây từ hồi nào?
- Đây nhà người em, nó vô từ năm 75.
- Một nhà mà đất rộng quá vậy?
- Hồi đó rừng rú có ai mô. Muốn khai hoang mấy không được.
- Người Huế quanh đây nhiều không?
- Không nhiều, họ vô cả Long Khánh, lên Buôn Mê Thuộc. Ở Huế thì mần chi sống nổi.


Tàu đánh cá

Quán Vui phía ngoài khách sạn Thạnh Mỹ một đoạn. Quán không lớn, đông khách. Dĩa cơm, một phần tư con gà giá 85 nghìn, ăn được nhưng tính theo giá “gà chỉ” thì hơi đắt. Cam Ranh là phố biển mà nổi tiếng lại là món gà. Tiếc là chưa có dịp thực sự nếm món “gà chỉ” xem ra sao. Đôi khi thiên hạ ưa đồn đãi cho có chuyện chứ ngon thì đã chắc gì. Có điều tuy đã nâng lên “thành phố loại 3” nhưng Cam Ranh chưa thoát ra khỏi nếp sống của làng chài, nhất là vấn đề vệ sinh. Nhà cửa lem nhem đường phố rác bẩn bụi bặm rất tệ. Phố Đá Bạc là hình ảnh tiêu biểu. Dẫu sao, đến Cam Ranh, có nơi để tìm xem, có món để thưởng thức cũng là điều thú vị rồi.

Tháng 7 - 2011

Sách mới: QHQOK tập 12, đã phát hành đầu tháng 10-2011.
Sách đã in: Quê Hương Qua Ống Kính tập 1 đến tập 12, Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng, Mùa Nước Lũ (Truyện), Về Nhiếp Ảnh, Thăng Trầm (chuyện buồn vui một đời người), sách dày trên 200 trang, có 8 phụ bản ảnh màu và cả trăm ảnh đen trắng.
Độc giả muốn có sách (discount 50% 10 tập đầu, 126 Mỹ kim luôn cước phí gửi), xin liên lạc: Tran Cong Nhung, P.O. Box 254, Lawndale, CA 90260.
Điện thoại: (310) 978-4182 - Email: trancongnhung@yahoo.com - Website: www.ltcn.net
source
VienDongDaily

Làng nghề Sơn Đồng





(VienDongDaily.Com - 04/11/2011)
Sau khi thăm làng nghề Lai Xá tôi theo đường 32, chạy tiếp chừng cây số đến ngã tư Trôi (1), rẽ trái là vào làng Sơn Đồng.
Trần Công Nhung/ Viễn Đông

Sau khi thăm làng nghề Lai Xá tôi theo đường 32, chạy tiếp chừng cây số đến ngã tư Trôi (1), rẽ trái là vào làng Sơn Đồng.
Tên làng Sơn Đồng song nghề lại chuyên điêu khắc gỗ. Xưa nay trùng tu tái tạo chùa đền, nhà cổ, đều rước thợ Hà Tây, thợ Huế. Riêng ngành điêu khắc tượng Phật Thánh và chạm đồ thờ là nghề truyền thống của dân Sơn Đồng (2).


Cổng làng Sơn Đồng

Con đường vào làng Sơn Đồng rộng như quốc lộ nhưng chỉ được một đoạn hơn trăm mét ngang qua UBND huyện Hài Đức, còn thì đường hẹp bằng nửa, lại ổ gà ổ vịt, chưa thoát khỏi hình ảnh một làng xưa, nhiều cổng cổ còn tìm thấy đầu các lối rẽ vào làng. Qua khỏi trụ sở huyện, đã thấy một hai nhà tiện gỗ bên đường. Nhà cửa mở toang, thợ thầy làm ngay phía trước. Thấy bảng hiệu ghi thợ Đồng Kỵ Bắc Ninh, tôi thắc mắc hỏi người thợ trẻ, anh bảo “Sơn Đồng bác chạy vào mấy cây nữa”. Mấy cây số nhà thưa thớt, có chỗ nền nhà bên hồ nước, cảnh quê mà hay. Đây là trục lộ chính qua làng, vào gần ngả tư Sơn Đồng thì nhà thợ tiện san sát hai bên đường. Tiếng đục đẽo lách cách nhà nọ sang nhà kia. Một thứ âm thanh rộn ràng mà không ồn ào. Đa số thợ ở tuổi thanh niên, sức lực dồi dào rất hợp với nghề vất vả chân tay. Hỏi một hai người thợ về sự tích làng nghề, họ tỏ ra không hiểu lắm, kế nghiệp cha ông qua nhiều đời, họ chỉ biết sản phẩm của làng đã có từ hàng trăm năm nay. Những tượng Phật Thích Ca, Phật Di Đà, Phật Bà nghìn mắt nghìn tay, tượng ông Thiện, ông Ác, tượng La Hán, kiệu bát cống, những bức hoành phi, câu đối, cuốn thư.... Nói chung nghề tạc tượng thờ đã mang lại vinh quang cho làng, đã có nhiều nghệ nhân từng được vua Khải Định (1916-1925) ban thưởng.

Mỗi năm, làng làm ra hàng nghìn sản phẩm xuất đi khắp các miền Trung Nam Bắc, và có cả một số sản phẩm đưa ra nước ngoài. Dừng lại ở một cửa hàng đồ thờ, tôi hỏi ông chủ:
- Thưa bác, hàng đặt của khách hay hàng bày bán?
- Những đồ tế tự, tượng Phật lớn phải có người đặt, hàng nhỏ thì làm sẵn để bán.
- Nhà bác có bao nhiêu thợ chuyên làm?
- Mười thợ, thợ làm chỗ khác, đây là nơi trưng bầy sản phẩm.
- Sản phẩm thường làm bằng gỗ gì hả bác?
- Nhiều thứ, mít, gụ…
- Như cái uốn thư này khi hoàn tất giá bao nhiêu?
- Khoảng 8 – 9 triệu.
- Sơn Đồng có đền thờ Tổ nghề chứ bác?
- Có đấy, ông lên ngả tư trên, rẽ phải chừng trăm mét, có đền thờ.

Tôi đi ngay, đã quá trăm mét vẫn không thấy đền Tổ làng nghề, chỉ có nhà liền nhà, bày tượng, đồ thờ ra sát lề đường. Một hai nhà kê nguyên pho tượng Phật cao cả 2 mét trước cửa nhà, tượng đã đổi màu mốc bạc. Có lẽ khách hàng đặt rồi bỏ chăng. Lối buôn bán của người mình, thứ gì cũng muốn phô ra đường, trái với người phương Tây, mọi thứ bày trong nhà kín đáo, không quấy rầy khách đi đường. Lúc mới đặt chân lên đất Mỹ tôi khá ngạc nhiên về lối buôn bán của họ. Đi trên đường phố tưởng như phố không người, nhà nào cũng kín cửa, chỉ có bảng hiệu. Vào trong mới thấy hàng hóa đầy ắp cửa hàng.
Chợt thấy cổng ngôi miếu nhỏ bên đường tưởng đền thờ Tổ, trên cổng có đề: “Ai về Tam Phủ dừng chân trình ngài Quan Án”. Chữ mới tinh mà cổng thì rõ xưa. Người đi đường cho biết đó là mộ Quan Án Sát ngày trước ở hạt này. Nhìn qua song cửa sắt thấy một bi ký khá cao lớn, phong đen chữ Hán trắng rất nét, nhưng chung quanh toàn đồ tạp nham phế thải bừa bãi, chẳng ai trông nom. Tôi hỏi một nhà bán đồ thờ đền Tổ làng nghề, họ chỉ ngay ngõ bên kia đường vào một trăm mét. Tôi ngờ ngợ như đi vào chùa, cuối có một cổng trên đắp 3 chữ Tàu. Không nhận ra dấu hiệu đền thờ, tôi quay ra đường cái hỏi lại, một bà già bảo: “Đền ở sau lưng chùa, ông cứ đi qua cổng ấy rồi ra sau, có người trông Đền”. Quay lại, đẩy cửa bước vào, không thấy ai nhưng có con chó buộc bên góc tường sủa inh tai. Mãi mới có một bác già ra tiếp.


Tượng Phật đồ thờ

- Thưa bác, đây là đền thờ Tổ làng nghề, bác là Thủ Từ giữ Đền?
- Vâng, tôi Nguyễn Xuân Dừng, trông Đền, mời ông vào.
Bác thủ từ có vẻ mau mắn và hiếu khách, bác trả lời tất cả những điều tôi thắc mắc, bác cũng tỏ ra rành rẽ mọi sự tích về ngôi Đền. Bác cho biết: “Đền có từ thời Lê đã hơn nghìn năm. Lúc đầu chỉ là ngôi miếu tranh tre, qua thời gian được trùng tu tôn tạo lớn như hôm nay”. Hỏi về gốc gác Thánh Tổ, bác cho biết Thánh sinh năm 960, năm 20 tuổi, ngài xếp bút nghiên lên đường giúp vua Lê Đại Hành đánh quân Tống. Sau khi đuổi được giặc, nhà vua mời Ngài vào kinh giúp việc nước, Ngài từ chối và xin về địa phương này dạy dân cấy lúa nước, trồng dâu nuôi tằm và nghề mộc. Trước khi đi đánh giặc ngài làm thầy dạy chữ Hán. Năm 986 Ngài bay về Trời, như Thánh Gióng thuở trước. Ngài có công lớn, được Vua Lê Đại Hành phong: Lê Tướng Công Nguyên Soái Thượng Đẳng Thần. Hữu Công Ư Dân. Thánh cũng là người truyền dạy chữ Hán cho dân làng.
Bàn thờ nhà tiền tế sơn son thếp vàng, nét chạm trổ tinh vi đúng là sản phẩm của làng nghề Sơn Đồng. Trên bàn thờ bày biện đơn giản cân phân, không quá rườm rà hoa quả lọ bình. Hai Hạc vàng cao lớn chầu hai bên. Nghi môn cẩn thếp vàng sáng sủa. Tôi nhờ bác Thủ từ thắp nhang để chụp tấm hình. Khi tôi ngõ ý xin vào hậu điện, nơi thờ Tổ, ông định mở cửa thì bà vợ nhảy xổng vào cản. Từ lúc tôi vào hòi chuyện bác thủ từ, bà này cứ theo dõi và hay ngăn chặn vô cớ. Không hiểu bà có ý gì nhưng trông điệu bộ thật khó ưa. Có lúc ông chồng gắt lên: “Thì bà đi lo chuyện của bà”. Một nơi di tích mà cung cách của người coi ngó như vậy thật đáng tiếc. Khách ra về làm sao không khỏi có lời than phiền. Dẫu sao làng nghề truyền thống Sơn Đồng cũng được tiếng là nơi giữ gìn và phát triển những tinh hoa văn hóa trong nghệ thuật điêu khắc của nước nhà. Trải qua bao thăng trầm sóng gió cùng với lịch sử dân tộc, làng nghề Sơn Đồng cho đến ngày nay vẫn là nơi được lựa chọn đầu tiên khi mọi người cần đến những hoành phi, câu đối, những tượng phật, đồ thờ….

Theo sử liệu, Sơn Đồng là một làng khoa bảng, với tám tiến sĩ qua các triều đại trước đây. Trong đó, nổi danh nhất là tiến sĩ Nguyễn Viết Thứ, từng làm đến chức Tham Tụng (Tể Tướng) dưới triều Lê Trung Hưng. Làng nổi tiếng với nghề làm hoành phi, câu đối. Đâu đâu cũng thấy chữ Hán, chữ Nôm trong các xưởng mộc. Ngày nay Sơn Đồng có lớp Hán Nôm của thầy giáo Vết rất được hâm mộ. (3)
(Kỳ tới: Chùa Diên Phúc và Thánh Tổ Đào Trực)

Tháng 8 - 2011

(1) Hà Nội, Sài Gòn thường gọi các ngả tư bằng tên thị trấn, phường… Ngả tư Trỗi, ngả tư Sở, ngả tư Vọng, ngả tư Bảy Hiền, ngả tư Bình Phước, ngả tư Gò Mây.
(2) Làng Sơn Đồng huyện Hoài Đức trước thuộc Hà Tây, nay thuộc Hà Nội. Làng Nhị Khê, quê của Nguyễn Trãi cũng làm nghề tiện, nhưng không tinh xảo chỉ chuyên về bát nhang, độc bình, đồ thờ nho nhỏ. Đọc “Ao Huê Trại Ổi” trang 101, QHQOK tập 10.
(3) Ông đồ Vết tên thật là Nghiêm Quốc Đạt. Ông vốn dòng dõi Nho gia, ông nội là thầy đồ có tiếng. Ông học chữ Hán Nôm từ chính ông, cha mình. Không một ngày học trường sư phạm, nhưng ông Vết vẫn được người làng gọi là ông giáo, ông đồ. Ông giáo Vết nổi tiếng cả vùng, bởi ông là người duy nhất dạy chữ Hán Nôm ở huyện Hoài Đức, và cả mạn phía tây của Hà Nội. Hơn nữa, lại dạy miễn phí. Hiện giờ, lớp Hán Nôm có 70 học trò, mỗi tuần đều đặn hai buổi học. Tuổi đã ngoại thất thập, ông không chịu nghỉ ngơi. Được hỏi, ông Vết tâm sự: "Tôi thấy bọn trẻ bây giờ có điều kiện học hành hơn trước. Nhưng nhiều đứa không biết đến gia phong, không biết kính trên nhường dưới. Tôi mở lớp dạy Hán Nôm để dạy chữ, đồng thời, để dạy đạo làm người cho các cháu". Năm 2006, lớp học của ông Vết ra đời, với tên gọi lớp học Hán Nôm Sao Khuê. Truyền thống hiếu học, truyền thống khoa bảng của đất này được khơi dậy. Rất nhanh chóng, lớp Hán Nôm đã thu hút khoảng 40 học trò. Ban đầu, môn sinh theo học phần lớn là người Sơn Đồng, dần dần, có cả người nơi xa mấy chục cây số cũng đến học.
Lớp học Sao Khuê đủ hạng tuổi, cụ già tóc bạc ngồi chung với trẻ tiểu học. Học trò cao tuổi năm nay đã 82, học trò lớp tuổi từ 10 đến 12 khá đông. Khác nhau về lứa tuổi, nhưng lớp học Hán Nôm Sao Khuê luôn diễn ra trong tiếng cười rộn rã. Đấy là cái tài của người dạy học. Những lễ Tết, ông giáo Vết tổ chức cả đoàn "ông đồ nhí" đi viết chữ tặng mọi người. Những cô, cậu học trò chừng 14, 15 tuổi, đã biết bày mực tàu, giấy đỏ, nắn nót những chữ "Phúc", chữ "Thọ"... mừng tuổi ông bà, bố mẹ. Sau năm năm, lớp Hán Nôm Sao Khuê đã có 420 môn sinh tốt nghiệp.


Sách mới:
QHQOK tập 12, đã phát hành đầu tháng 10-2011.
Sách đã in: Quê Hương Qua Ống Kính tập 1 đến tập 12, Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng, Mùa Nước Lũ (Truyện), Về Nhiếp Ảnh, Thăng Trầm (chuyện buồn vui một đời người), sách dày trên 200 trang, có 8 phụ bản ảnh màu và cả trăm ảnh đen trắng.
Độc giả muốn có sách (discount 50% 10 tập đầu, 126 Mỹ kim luôn cước phí gửi), xin liên lạc: Tran Cong Nhung, P.O. Box 254, Lawndale, CA 90260. Điện thoại: (310) 978-4182 -
Email: Trancongnhung@yahoo.com - Website: www.ltcn.net
Nguồn: http://www.viendongdaily.com/lang-nghe-son-dong-5tJl5sgY.html
Trần Công Nhung/ Viễn Đông
source
VienDongDaily

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011

Điểm mặt 'tứ đại gia' giàu nhất Sài Gòn


Cập nhật 07/09/2011 04:15:00 PM (GMT+7)
Go.vn

Điểm mặt 'tứ đại gia' giàu nhất Sài Gòn

Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, ở Sài Gòn nổi lên tứ đại hào phú lẫy lừng: “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định”.
TIN BÀI KHÁC
Sát thủ Luyện phải chịu mức án hơn 18 năm tù?
Vụ cô gái chết, Viện trưởng miễn cưỡng nhậu?
Cụ ông trúng vé số 7,6 tỷ đồng giờ ra sao?
Bebe Phạm rời sàn catwalk vì có bầu?
Một cháu bé bị đánh chết vì hái trộm ổi
Cận cảnh Cường ĐôLa trong hành trình siêu xe

Họ không chỉ giàu nhất Sài Gòn, mà còn giàu nhất Nam Kỳ lục tỉnh và Đông Dương. Tuy nhiên, theo một số tài liệu, vị trí thứ tư còn được dành cho một số đại phú hộ khác: Tứ Trạch, Tứ Hóa hoặc Tứ Bưởi.

Nhất Sỹ - Lê Phát Đạt (1841-1900)

Lê Phát Đạt, còn có tên gọi là Sỹ, về sau được Pháp phong Huyện hàm, nên còn được gọi là Huyện Sỹ và có tên thánh Philipphê.

Nhà thờ Huyện Sỹ tại quận 1, TP.HCM.

Huyện Sỹ sinh ra trong một gia đình theo đạo công giáo tại Cầu Kho (Sài Gòn) nhưng quê quán ở Tân An (Long An). Thuở nhỏ, ông được đi học trường Dòng tại Penang (Malaysia), nên thông thạo các ngôn ngữ: La tinh, Pháp, Hán và quốc ngữ (chữ Việt mới sơ khai). Do trùng tên với một người thầy dạy nên đổi tên thành Lê Phát Đạt.

Khi về nước, ông được Chính phủ Nam Kỳ bổ dụng làm thông ngôn, rồi làm Ủy viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ (từ năm 1880). Tuy nhiên, phần lớn thời gian ông dành cho hoạt động phát triển nông nghiệp và truyền bá đạo thiên chúa. Nhà thờ Huyện Sỹ (tại quận 1, TP.HCM ngày nay) và nhà thờ Hạnh Thông Tây (tại quận Gò Vấp) do ông bỏ tiền ra xây cất trên đất của mình.

Các con của Huyện Sỹ như: bà Lê Thị Bính (mẹ của Nam Phương hoàng hậu), Lê Phát Thanh, Lê Phát Vĩnh, Lê Phát Tân… đều là những đại điền chủ có rất nhiều đất đai ở Tân An, Đức Hòa, Đức Huệ và Đồng Tháp Mười… Riêng con cả Lê Phát An được vua Bảo Đại phong tước An Định Vương, là người duy nhất trong lịch sử Nam Kỳ thuộc hàng dân dã, không là “hoàng thân, quốc thích” được lên ngôi vị cao quý nhất của triều đình.

Tương truyền, năm 1934, nhân dịp gả cháu gái Nguyễn Hữu Thị Lan cho vua Bảo Đại, Lê Phát An đã tặng cho Nam Phương hoàng hậu 1 triệu đồng tiền mặt để làm của hồi môn (tương đương 20.000 lượng vàng lúc bấy giờ).

Năm 1900, ông Lê Phát Đạt mất. Sau khi vợ ông - bà Huỳnh Thị Tài qua đời năm 1920, người ta mới đưa xác hai ông bà chôn ở gian chái sau cung thánh nhà thờ Huyện Sĩ như một nhà mồ.

Nhì Phương – Đỗ Hữu Phương (1844-1914)

Do được Pháp phong Tổng đốc hàm nên Đỗ Hữu Phương còn được gọi là Tổng đốc Phương. Ông sinh tại Chợ Đũi (Sài Gòn), gốc người Minh Hương, biết chữ Hán, nói được một số tiếng Pháp.

Đỗ Hữu Phương còn được gọi là Tổng đốc Phương, được mệnh danh là người giàu thứ nhì Sài Gòn xưa.

Năm 1872, Đỗ Hữu Phương được Thống đốc Nam Kỳ chỉ định làm hội viên Hội đồng thành phố Chợ Lớn. Năm 1879, ông làm phụ tá cho Xã Tây Chợ Lớn. Ở chức việc này, ông Phương không bỏ qua cơ hội để làm giàu, làm trung gian để các thương gia hối lộ cho viên chức Pháp. Nhờ vậy, sự nghiệp của ông trở nên đồ sộ nhất nhì ở Sài Gòn thời đó.

Đỗ Hữu Phương chính là một trong những người đề xướng và đã bỏ tiền ra xây trường Collège de Jeunes Filles Indigènes vào năm 1915, tức trường Nữ Trung học Sài Gòn, mà người dân thường gọi là trường Áo Tím (nay là Trường Trung học Phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai)…

Trước 1975, ở Chợ Lớn có con đường Tổng Đốc Phương, mà bây giờ là Châu Văn Liêm thuộc quận 5.

Tam Xường - Lý Tường Quan (1842-1896)

Bá hộ Xường, tên thật là Lý Tường Quan, tự Phước Trai, sinh năm 1842, mất năm 1896.

Khu nhà thờ Bá hộ Xường.

Cuộc đời và sự nghiệp của Bá hộ Xường, sách vở biên chép rất ít, chỉ biết đại khái ông là người Minh Hương, lánh nạn phong kiến nhà Thanh, sang đất Nam Kỳ, vào học trường Tây, rồi làm thông ngôn cho chính quyền Pháp - rất được yêu mến và trọng dụng bởi sự thông minh, đắc dụng. Năm 30 tuổi, ông bỏ nghề thông ngôn bước vào lĩnh vực kinh doanh lương thực dịch vụ, thầu cung cấp vật dụng thức ăn, độc quyền cung cấp thịt cá cho Sài Gòn và các tỉnh lân cận.

Sách Sài Gòn năm xưa của Vương Hồng Sển chép: Hộ Xường vốn là thông ngôn xuất thân. Sớm xin thôi, ra lãnh thầu cung cấp vật dụng thức ăn cho thị xã, rồi mua đất xây cất biệt thự tại vùng Chợ Lớn để cho thuê và bán. Nhờ khéo tay thêm gặp thời, ông trở thành cự phú không mấy hồi… Thế nhưng, sau khi ông chết, số tài sản kếch sù đều bị con cháu nhanh chóng bán tiêu xài hết. Cái mà nay còn lại là khu nhà mồ cổ khá kiên cố do “tôn tử tương tề đồng tâm” xây dựng vào tháng 12/1896, hiện ở gần di tích Địa đạo Phú Thọ Hòa, thuộc phường 18, quận Tân Bình, TP.HCM.

Tứ Định – Trần Hữu Định

Người xếp hạng tư là bá hộ Định, tên thật Trần Hữu Định. Xuất thân là chủ tiệm cầm đồ, rồi được chính quyền Pháp cho làm Hộ trưởng (bấy giờ, Chợ Lớn là một tỉnh riêng biệt gồm 20 hộ, độc lập cùng với tỉnh Gia Định) kinh doanh đất đai, xuất nhập khẩu vải sợi, ông phất lên nhanh chóng nhờ biết nắm thời cơ những lúc hàng khan hiếm.

Có biệt thự ở nhiều nơi và cũng như bá hộ Xường, danh xưng bá hộ Định hay Hộ Định là do dân Chợ Lớn thấy ông giàu có nên gọi như vậy. Sau khi ông mất, con cháu không biết giữ của, tiêu xài và xoá sạch vết tích của nhà cự phú này.

Năm 1960, trong tác phẩm Sài Gòn năm xưa, Vương Hồng Sển mô tả cơ ngơi của Trần Hữu Định như sau: “Nhà ở khoảng giữa đường Trần Thanh Cần, gần dốc cầu Palikao một đầu và chợ Quách Đàm một đầu. Ngôi nhà năm căn trệt chạm trổ thật khéo, cột cẩm lai bóng ngời ngó thấy mặt; trong nhà từ cái bàn, cái ghế, cái đôn sành đều có vẻ cũ xưa. Mấy năm trước chính mắt tôi còn thấy làu làu vững chắc tuy khuỷnh vườn sân trước đã bị cắt xén sát mặt tiền nhường chỗ làm thềm và đường cái mở rộng nên lấp kênh.

Gần đây, vì đất chợ cao giá nên tuy nhà lập làm phần hương hỏa mà con cháu đã bán và dỡ đi. Thay vào đó là một dãy phố lầu tiệm buôn khách trú. Phần hoa lợi tuy có thêm, nhưng thiệt hại về cổ tích từ đây và cứ theo đà này, đô thành Sài Gòn ngày một mất dần những dấu vết xưa...”.

(Theo Đất Việt)

source

http://www.vietnamnet.vn/vn/kinh-te/38503/diem-mat--tu-dai-gia--giau-nhat-sai-gon.html

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

Góa phụ tử sỹ Hoàng Sa kể chuyện


Góa phụ tử sỹ Hoàng Sa kể chuyện

Cập nhật: 15:35 GMT - thứ năm, 28 tháng 7, 2011

Thiếu tá Ngụy Văn Thà

Chồng bà Sinh nằm trong số 58 người lính Việt Nam Cộng hòa hy sinh trong trận hải chiến

Lễ tưởng niệm các liệt sỹ Việt Nam của cả hai chế độ trong các cuộc chiến chống Trung Quốc kể từ năm 1974 tới nay đã diễn ra ở thành phố Hồ Chí Minh vào ngày Thương binh liệt sỹ 27/7.

Trong số những người tới dự có bà Huỳnh Thị Sinh, quả phụ của Thiếu tá Ngụy Văn Thà, hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo của hải quân Việt Nam Cộng hòa, người nằm trong số 58 binh lính hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa với hải quân Trung Quốc hồi năm 1974.

Nguyễn Hùng của BBC đã hỏi chuyện bà Sinh ngay sau khi bà tham dự buổi lễ tưởng niệm đầu tiên cho chồng bà từ năm 1975.

Khi Thiếu tá Ngụy Văn Thà rời nhà đi công tác trong những ngày giáp Tết Giáp Dần hồi năm 1974, ông ôm hôn và tạm biệt vợ con như các chuyến đi trước đó.

Nhưng bà Huỳnh Thị Sinh, vợ ông, nói ông có vẻ bịn rịn hơn bình thường.

Ông, bà Sinh và ba cô con gái, khi đó lên ba, sáu và chín tuổi sống trong một căn hộ chung cư trên tầng hai ở đường Lý Thường Kiệt.

Căn hộ có một chiều 12 mét và một chiều 3,5 mét. Bà Sinh nói vì "không có tiền nên mới phải ở vậy".

Bà nhớ lại buổi chia tay chồng: "Trước khi ông đi, ông cứ đi ra lại đi vô.

"Rồi ông đứng dưới đường nói 'tàu đang vô dầu, sửa chưa xong".

Phỏng vấn bà Huỳnh Thị Sinh

Vợ góa của liệt sỹ Hoàng Sa Ngụy Văn Thà kể với BBC về ngày bà biết tin chồng hy sinh trong trận hải chiến chống Trung Quốc.

Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.


Đó là cuộc nói chuyện cuối cùng giữa Thiếu tá Thà, 31 tuổi và bà Sinh, 26.

Trong trận hải chiến một, hai ngày sau đó, chiến hạm Nhật Tảo - HQ10 của ông được cho là đã đã bắn hỏng một trong số các tàu của hải quân Trung Quốc nhưng HQ10, vốn chưa sửa xong hỏng hóc và chỉ còn một máy hoạt động, phải hứng những làn mưa đạn.

Theo lời kể của những người sống sót, máu các chiến sỹ loang đỏ trên boong, và Hạm trưởng Thà đã tử trận khi đạn bắn trúng đài chỉ huy.

Sau khi trận hải chiến ban đầu bất phân thắng bại, hai tàu chiến tăng viện của Trung Quốc đã tới Hoàng Sa và bắn chìm chiến hạm Nhật Tảo, hậu thân của tàu vớt mìn Hoa Kỳ USS Serene.

Xác của hạm trưởng Thà cùng hàng chục binh sĩ đã ra đi cùng chiến hạm vào lòng biển.

Đau buồn

Nói chuyện với BBC hôm 27/7, bà Sinh nói:

"Cái chuyến công tác sau cùng mà ông Thà đi, ổng đâu có nói đi để đánh nhau với Trung Quốc hay là cái gì đâu. Cũng bình thường như mình nghĩ ông ấy đi công tác hàng tháng vậy thôi.

"Có khi ông ấy đi một tháng ông ấy về mười ngày rồi ông ấy lại đi nữa. Mà có khi ông ấy đi hai, ba tháng ông ấy mới về một lần. Mình cũng nghĩ ông ấy đi công tác vậy thôi.

"Trời ơi, lúc đó tôi cũng đau buồn lắm. Chứ cũng đâu biết sao bây giờ. Tôi hết hồn luôn đó."

Bà Huỳnh Thị Sinh, vợ góa của Thiếu tá Ngụy Văn Thà

"Ông ấy nói chuyến công tác này ông ấy đi Đà Nẵng đó.

"Mà tôi không biết làm sao, qua ngày sau thấy báo tin là ổng chết, đánh nhau với Trung Quốc.

"Trời ơi, lúc đó tôi cũng đau buồn lắm. Chứ cũng đâu biết sao bây giờ. Tôi hết hồn luôn đó."

"...Lúc đó mấy cháu nó còn nhỏ quá. Cháu nhỏ nhất là ba tuổi, còn cháu lớn hình như nó biết.

"Nó ra ngoài cầu thang nó ngồi... nó buồn lắm.

"Lúc đấy nó cũng học lớp hai, lớp ba rồi... nó đọc báo nó thấy, nó hỏi tôi.

"Thì tôi cũng kể cho nó là ba nó chết vậy đó thôi."

Mất xác

Bà Sinh nói bà nhớ chính quyền thông báo cho bà vào ngày 27 Tết Quý Sửu.

chiến hạm Nhật Tảo

Thiếu tá Ngụy Văn Thà và hàng chục đồng đội đã chết mất xác cùng chiến hạm Nhật Tảo

"Lúc chồng tôi mất thì Bộ Tư lệnh Hải quân cũng có tới nhà tôi làm lễ truy điệu.

"Tại vì ảnh chết không có xác, chỉ có làm lễ thôi.

"Lúc đó nghe ông Tư lệnh ông ấy nói chết... mất xác luôn rồi.

"Tại vì chồng tôi chết trên chiếc tàu, mà tàu nó chìm xuống là mất xác luôn rồi.

"Hổng có đem xác về được mà cũng hổng có nơi chôn cất gì hết, chỉ có làm lễ truy điệu và mình để cái ảnh của anh lên để thờ vậy thôi.

"Hàng năm đúng ngày đó làm đám giỗ vậy à."

Tưởng niệm

Bà quả phụ nói kể từ tháng Một năm 1974 cho tới khi Sài Gòn sụp đổ hồi tháng Tư 1975, bà được nhận tiền "cô nhi quả phụ" của chính quyền Việt Nam Cộng hòa để bà và ba con có thể sinh sống.

Sau khi Việt Nam thống nhất, các khoản trợ cấp không còn nữa.

Bà đi làm hợp tác xã và ở vậy nuôi ba cô con gái.

Hiện bà Sinh đang ở nhờ nhà người em gái do người ta đã phá chung cư cũ của bà đi để xây mới nhưng việc xây dựng còn chưa bắt đầu.

"Làm được như vậy cho mình thì mình cũng mừng lắm. Mấy anh cũng nghĩ tới vậy thì mình cũng cảm ơn."

Bà Huỳnh Thị Sinh nói về lễ tưởng niệm cho chồng bà và các liệt sỹ

Bà nói với BBC bà rất vui khi đi dự buổi lễ tưởng niệm những liệt sĩ hy sinh khi chiến đấu chống Trung Quốc.

"Cái đó thì tôi hổng dám nghĩ tới.

"Mấy anh ở bên đây muốn làm sao thì cũng được.

"Làm được như vậy cho mình thì mình cũng mừng lắm.

"Mấy anh cũng nghĩ tới vậy thì mình cũng cảm ơn".

Chồng bà Sinh nằm trong số 58 người lính Việt Nam Cộng hòa hy sinh trong trận hải chiến mà Trung Quốc đã chiến thắng và chiếm toàn bộ đảo Hoàng Sa hồi năm 1974.

Kể từ đó tới nay, ngoài cuộc chiến biên giới đẫm máu năm 1979, hải quân Trung Quốc cũng bắn chết 64 lính Việt Nam ở Trường Sa hồi năm 1988 và chiếm bãi đá Gạc Ma từ tay Việt Nam.

Hồi cuối tháng Năm và trong tháng Sáu, (...) đã ngầm cho phép một số cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc diễn ra sau khi Bắc Kinh cho tàu gây hấn với tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam ở khu vực đảo Trường Sa.

Tuy nhiên, một số cuộc biểu tình trong tháng Bẩy đã bị trấn áp dưới sức ép của Trung Quốc và ý muốn kiểm soát tối đa của (...).

source

BBC Vietnamese