Thứ Năm, 12 tháng 11, 2009

Một ngày sông nước


Cập nhật lúc 1:42:24 AM - 20/01/2007
motngaysn1SFW.gif(Bài và ảnh Trần Công Nhung)
Chiếc Tác Ráng đưa chúng tôi từ Vườn Cò (1) trở lại cầu Bàng Lăng, trời đã muốn tối, thế mà còn một chiếc xuồng máy đưa khách Tây đi xem Cò. Đoạn đường trở về Cần Thơ bây giờ như xa hơn. Mưa không nặng hạt, nhưng trời tối mau, nhìn ra ngoài không còn biết cảnh vật đâu là đâu, xe chạy chừng mươi cây số lại nghe tiếng anh Xẻn (2): Thị trấn Thơm Rơm, thị trấn Ô Môn, thị trấn Trà Nóc. Lúc sáng không thấy gì giờ lại nghe nhiều thị trấn nên đường dài thêm. Xem ra ai cũng mong mau về để có bữa tối. Một người lên tiếng:
- Bác tài cho tới tiệm phở nào ngon ngon.
- Cần Thơ có Phở Hoa (?) là số dách.

Phở dễ ăn, tương đối an toàn, tôi thấy ý kiến hay. Gần tiếng đồng hồ, xe chạy qua khách sạn Hùng Vương, chạy thêm một hai ngã tư rồi dừng lại trước một dãy phố đèn sáng trưng. Quán phở bên kia đường. Quán đông khách, tuy vậy chúng tôi cũng có một bàn riêng. Tùy sở thích, mỗi người tự gọi, tôi thì đơn giản, lúc nào cũng tái nước trong. Bên ngoài mưa lâm râm, trời mát mát, thới tiết rất hợp để thưởng thức một bát phở, nhưng ai cũng nhanh để về khách sạn, khác với không khí ở La Cà (3) đêm qua thật thi vị.
Theo lời anh trưởng đoàn, ngày mai sẽ có nhiều mục khá hấp dẫn: “Du thuyền” trên sông Cái Vồn nhỏ, sông chợ Bình Minh, rạch Trà Cuồng thăm chùa Tịnh Quang, tại đây nhà chùa sẽ đãi bánh xèo.,,và còn nhiều nữa..
Sáng hôm sau, anh Xẻn trở lại hướng dẫn chúng tôi về chợ Cái Khế ăn điểm tâm. Chợ Cái Khế cũng là trung tâm thương mãi lớn của Cần Thơ, đang được xây cất mở rộng. Xe dừng ngay dãy hàng quán đông khách vào ra. Khói nướng thịt bay mịt mù. Nhìn qua quán nào cũng, bún, mì hủ tiếu. Không hiểu do ngẫu nhiên hay cố ý mà chúng tôi được đưa vào quán có hai nữ tiếp viên trẻ đẹp, rất có duyên. Không ai bảo ai, người nào cũng đưa máy lên bấm, màng trập nhảy rào rào, các cô cứ nhìn mà cười, chẳng hiểu chuyện gì. Mãi một lúc, mọi người mới ngồi vào bàn. Người bún bò Huế, người phở, riêng anh Xẻn gọi một tô bún nước. Cô gái tưởng trêu nên ú ớ không đi. Một người trong bàn giải thích rõ chuyện anh vừa nhổ răng, chỉ có thể nuốt chứ không nhai, cô gái hiểu ra mới chịu làm cho anh tô đặc biệt. Miền Nam có lẽ nổi tiếng về lẩu, Lẩu: Lẩu Mắm, Lẩu Lươn còn Phở Bún thì tôi chưa gặp nơi nào ngon. Tôi hỏi đùa cô chạy bàn:

- Người Nam nấu bún sao lại gọi Bún Bò Huế?

- Dạ, mình bắt chước.

- Cứ để Bún Bò Nam như Phở Nam, hay Bún Bò Cái Khế cũng hay.

Rời chợ Cái Khế xe chạy về nhà một thầy giáo của 50 năm trước ở huyện Bình Minh. Từ đó sẽ có Tác Ráng đưa chúng tôi đi các nơi. Chỉ một lúc, xe tách lộ rẽ vào con đường nhỏ chạy về chợ Bình Minh, đường Ngô Quyền dối dài.. Nhà ông thầy vườn rộng, thông từ lộ trước ra lộ sau. Cổng trước ngay bờ sông, chỉ khi nào cần mới mở, cây cối lên um tùm, có ý che mắt kẻ gian dòm ngó. Anh Xẻn giới thiệu chúng tôi với ông thầy, và cũng là nhạc gia của anh.

Ông về hưu gần 10 năm nay nhưng người còn tráng kiện. Ông chuẩn bị ngày mai đi Tour Thai Lan. Trong khi chờ người kêu đò, chúng tôi đi xem vườn, nhiều cây ăn trái, đặc biệt mít Tố Nữ được mọi người ngắm nghía trầm trồ. Mít tố nữ quả nhỏ, gai mịn, ra ngay dưới gốc, lúc chín gai không nở như loại mít thường. Biết khách thích mít, ông cụ cho người hái những quả chín thết đãi.

Đã có thuyền, chúng tôi ra bến, ông cụ cũng đi. Chiếc Tác Ráng không lớn chạy theo con sông Cái Vồn nhỏ,ø nhà cửa san sát thấp tè. Ngồi trên thuyền có thể thấy các thứ trong nhà. Đa số nghèo, cứ nhìn áo quần phơi bên ngoài thì biết. Cũng những sinh hoạt như dân ở hai bên con rạch vô Vườn Cò, giặt giũ, tắm rửa và bao nhiêu chuyện khác đều nhờ nước từ dòng sông. Đoạn sông Cái Vồn nhỏ không dài, không nhà nào mở hàng quán, có lẽ vùng này người dân mua bán bằng đường bộ, không như dọc thủy lộ về Năm Căn, Ông Trang (4). hàng quán quay mặt ra sông như trên đường phố. Thuyền đi lại cũng ít, tới chỗ nhập vào sông Chợ Bình Minh mới thấy vài chiếc đò ngang đưa khách.

Lối chèo đò trong Nam khác hẳn ngoài Trung. Con đò đã không có dáng thon thả, người chèo lại dùng cả hai tay, hai chèo một lượt nên có nhanh mà không đẹp, thiếu nhịp nhàng. Nhìn cô lái dò trên sông Hương hay trên sông Kiến Giang (Lệ Thủy Quảng Bình) tôi thấy đẹp và rất có “nhạc điệu”. Một mái chèo phân làm nhiều nhịp uyển chuyển nhẹ nhàng theo đà đưa đẩy của thân hình, của đôi tay. Nhìn cô lái đò không có vẻ gì gấp gáp vất vả. Nếu hình dung được một câu hò Mái Đẩy thì hình ảnh càng đẹp tuyệt vời. Thuyền chúng tôi chun qua một cầu đúc trên sông Chợ Bình Minh. rồi ra sông Cái Vồn Lớn
Bây giờ cảnh không có gì đặc biệt, tôi lại có dịp ngắm mây trôi trên bầu trời trong xanh, và chụp đủ các dáng kiểu mây trên trời. Đến khi rẽ vào rạch Trà Cuồng, Tác Ráng chạy rất chậm, con rạch nhiều lục bình, chốc chốc phải chui qua cầu khỉ, cầu thấp sát nóc thuyền. Dọc con rạch này nhiều cảnh cũng lạ, bầu không khí và cảnh quang thu hẹp, yên tĩnh ấm cúng, đúng là miền quê sông nước.
Thuyền ghé bến, khách vào nghỉ chân nhà người bà con của anh Xẻn, tôi ngạc nhiên thấy trên bàn thờ có hình ông Phan Khắc Sửu, vị Nguyên Thủ của miền Nam trước 75. Hỏi ra, phía vợ anh Xẻn cũng là trong vòng thân tộc.
Nghỉ ngơi một lúc, cuộc hành trình lại tiếp tục: Thăm Đình Thần Trà Cuồng cách 5km ở xóm trên nên ai cũng đi bộ. Đường làng rợp bóng tre, mát mẻ, lại qua các vườn cây trái đang mùa, tội gì ngồi ghe. Quả thật, đi một đoạn đã thấy cảnh nhà dân Nam Bộ. Nhà vách ván liếp lá, dưới hiên một hàng lu đựng nước. Người Nam ăn uống bằng nước mưa nên nhà nào cũng nhiều lu vại lớn chứa nước. Một em bé trần truồng đang tắm, một bà già khom lưng quét rác vườn. Và nữa, mấy chị lái buôn từ thị trấn về mua nhãn. Mấy giỏ bội dầy nhãn để bên đường.

- Nhãn này bán không?

- Dạ, mới mua.

- Mua xong thì bán chớ?

- Dạ, về cân cho bạn hàng.

- Thì tụi tui mua lẻ vài kí.

- Dạ được.

Giá cả chưa xong mà ai cũng xúm vào thử, mỗi người rứt một chùm, chị bán hàng phải kêu lên: “Ăn giùm những trái rời”. Thử mà cứ lôi từng nhánh thì người ta còn buôn bán cái gì. Hai cô trong đoàn được yêu cầu ra làm mẫu. Tác phẩm: “Trái cây đầu mùa”.. Nhãn miền Tây cơm dầy và ngọt đậm. Mấy phút giải lao vừa sáng tác, ai nấy xem ra rất hứng khởi. Con đường làng chạy men rạch Trà Cuồngchỉ một lát đã đến Đình. Ngôi đình không lớn và như mới xây. Bình thường cửa khóa, không ai trông coi. Ông cụ mở cửa, gia đình vào thắp nhang.

Tôi hỏi anh Xẻn:

- Đình làng mới xây? Cũng không lớn như những ngôi đình làng thường thấy?

- Đây không phải đình thờ Thần Hoàng của làng. Đình Trà Cuồng ngày trước đã bị bom đạn san bằng, kiểu như chùa Tịnh Quang. Về sau nhạc mẫu của tôi bỏ tiền ra xây cất, và kêu gọi chúng tôi và một số dồng hương ở Mỹ đóng góp. Từ đó Đình thuộc quyền sở hữu của chúng tôi (6).

motngaysn3SFW.gifChùa Tịnh Quang (ảnh Trần Xẻn)

Tác Ráng tiếp tục đưa chúng tôi Từ Trà Cuồng trở lại sông Chợ Bình Minh, qua sông Trà Ôn rồi rẽ vào rạch Tra thăm chùa Tịnh Quang. Đây là ngôi chùa cổ đã mấy trăm năm nhưng qua các thời kỳ chiến tranh chùa đã được trùng tu nhiều lần và hiện cũng đang được sửa sang. Sau Phật đường là nhà sinh hoạt, thầy trù trì còn trẻ, thầy Trường (5), vui vẻ tiếp chúng tôi. Trời nóng nên có bao nhiêu quạt Thầy cho mang ra, và móc nhiều võng cho khách nghỉ. Tôi mang máy dạo một vòng quanh chùa. Vườn chùa rất rộng, ít công trình phụ, nhiều cây trái: Bưởi, ổi, chôm chôm và rau cải. Trước chùa có hồ sen và tượng Quan Âm. Chùa không có cổng tam quan, vào chùa qua một cổng đơn sơ ngay bến bước lên. Nét khác biệt ở đây là trong hay ngoài chùa đều thông thoáng, không xây cất linh tinh, không thờ tự rườm rà, trái hẳn với miền Bắc.

Nhà bếp đã bê thức ăn lên, mọi người ngồi bàn, những dĩa bánh xèo to tướng vàng ngậy, rau sống nước chấm màu sắc khá hấp dẫn. Bánh xèo cùng họ với bánh khoái ở Huế. Bánh khoái nhỏ bằng chiếc đĩa con, giòn vàng ngon đặc biệt. Trước kia bánh khoái cầu Đông Ba nổi tiếng, muốn có bánh ăn phải ngồi chờ cả giờ đồng hồ. Nhớ thời còn đi học, có lần than phiền “lâu quá”, bà hàng đáp ngay “Lâu đói mới ngon chớ”.

Bánh xèo tương tự như Pizza của ý. Nếu người Ý ăn bánh xèo thể nào họ cũng nghĩ mình bắt chước họ. Món tráng miệng cũng khá ngon: Ổi xá lị. Ổi trong vườn chùa thì không phải ngại thuốc sâu, hay thuốc kích thích quả mau lớn. Nhiều nhà vườn lạm dụng phun thuốc tăng năng suất, không nghĩ như thế là gieo mầm bệnh độc hại cho người tiêu dùng..

Trong khi trà nước, anh trưởng đoàn cho biết chùa Tịnh Quang có tiếng rất linh và khó ở. Ngày xưa ngay trước bến chùa, mỗi tháng đến rằm, mồng một, có con Rùa rất lớn nổi lên nghe kinh. Thời gian gần đây không thấy nữa, người ta bảo có lẽ con rùa đã chết vì quá già. Lại trong thời kỳ chiến tranh, (...) dùng chùa làm nơi ẩn núp, máy bay quân đội Cộng Hòa thường đến thả bom. (...) chết nhiều nên chùa nổi tiếng có ma. Chỉ thầy Trù Trị mới ngủ yên giấc, còn người khác bị phá suốt đêm.

Đã đến giờ, chúng tôi lên chánh điện lễ Phật và làm công đức. Anh Xẻn đứng ra nói lời cảm ơn nhà chùa và xin cáo từ.

Nắng đã xế, chúng tôi xuống ghe để về lại Bình Mình. Chiều nay ông Thầy đãi cơm, không phải đi nhà hàng. Một ngày sông nước không gì vất vả nhưng đi nhiều, biết nhiều sự tích, biết được thực tế lịch sử của đất nước mà trong thời chiến tranh ai cũng nhận phần tốt về mình.

Trần Công Nhung (August - 2006)

(1) QHQOK 6 đã in

(2) Tên tuổi thường là dễ nghe, dễ nhận, đẹp và ý nghĩa. Anh trưởng đoàn có cái tên rất tượng hình “ruộng rẫy”. Trước khi đi VN, anh cẩn thận cho tôi 4 số phone, tới ngày hẹn, gọi 3 số đều không liên lạc được. Số thứ tư có tiếng trả lời: “Nhà này không có ai tên Xẻn”. Sau mới hay, ở nhà anh có tên “Hia Nghí”. Không ai gọi Xẻn bao giờ.

(3) La Cà Cần Thơ QHQOK 6 đã in.

(4) Đất Mũi QHQOK 4.

(5) Thầy Trường mới sinh ra đã được cha mẹ đem gửi chùa. Lơn lên, khi thầy Trù Trì viên tịch, thầy Trường lên Trù Trì.

(6) Anh Xẻn cho biết: “Đất ở Trà Cuồng phần lớn của ông bà ngoại vợ tui. Ông ngoại là anh ruột ông Phan Khắc Sửu, đậu luật sư bên pháp (thập niên 30). Về nước ông không hợp tác với Pháp mà tổ chức chống Pháp quyết liệt. Ông bị bắt, ra tòa tư biện hộ, được thả. Năm 1947 (...) thuyết dụ ông, ông hất đổ mâm cơm và phản đối. Ông bị bắt và bị xử tử bằng cách đóng cọc tầm vong từ trên cổ xuống.

Thư Độc Giả

Chịu chơi

Trong mấy năm qua, thấy có một số độc giả thường đặt thêm sách để gửi tặng, bố mẹ, bạn bè hay con cái nhân ngày sinh nhật hoặc trong dịp lễ Tết. Thế nên, trong thông báo gửi độc giả chuyện phát hành QHQOK tập 6, tôi có báo tin: Tập 7 sẽ dành riêng 1 trang, trang 4 để in hình của người tặng hay người được tặng với lời ghi gọn phía dưới. Nhận được thư, một vài vị đã gọi phone order ngay. Tôi cũng vui nhưng do dự chưa biết tính sao, vì là chuyện bày trò để chơi, và chưa bắt tay vào làm thì tính thế nào.
Thấy tôi do dự, bác Châu Hoa (W.Covina) nói ngay:
“Tui chịu chơi chớ không chơi chiu đâu, ông Nhung đừng ngại”.
Bác Châu là người Việt gốc Hoa, cũng như độc giả Lucian Lu, vậy mà rất yêu Quê Hương Việt, yêu mới “chịu chơi” như vậy. Tôi chợt nhớ có một tape nhạc hài giọng Bảo Quốc (danh hài trong nước) nhại bài Biệt Ly của Doãn Mẫn, độc giả biết bài Biệt Ly thử hát:
“Chịu chơi, đã chơi thì chơi. Chơi mà còn tính lỗ với lời. thì đừng chơi, đến khi mình hết hơi là hết chơi”.
Người hết hơi cũng như bánh xe xì lốp, còn chơi nỗi gì! Thế nên người viết cũng theo người đọc “chịu chơi” luôn. Trong thư có nói gửi hình rõ và đẹp, nhưng, không hiểu lý do gì ai cũng gửi cái ảnh bằng bàn tay, chup trong nhà hàng tiệc cưới, chụp ngoài vườn nguyên cả cảnh nhà có giàn hoa lý. Thế này là rơi vào tình cảnh “bụng làm dạ chịu”. Phải mất một buổi crop hình ra cho to, tô điểm sao cho coi được. Lại có một bà ngoại, sau khi xem một vài mẫu ghi dưới hình, đã thực thà yêu cầu: “Ông là nhà văn chữ nhiều, tôi thêm tiền, ông ghi thêm cho chứ vầy thì hơi ít?.
Độc giả là người quí mình, nay yêu cầu có thế mà tìm cách tránh né thì coi sao đặng.
Bao nhiêu khó khăn lẩm cẩm đành phải gánh. Cũng tự mình bày chuyện mà ra.
“Chịu chơi, đã chơi thì chơi.”

Sách mới: Đã có QHQOK tập 6, mời quí độc giả order, ấn phí như thường lệ.
Ấn bản đặc biệt: QHQOK 6 : Của các độc giả: Châu Hoa (West Covina), Xuân Nguyễn (Nevada), Vẹn Nguyen (Gardena) .
Anh Phong Ngo: Đã nhận được thư. Cảm ơn nhưng information anh forward, nhưnh Lịch 2007 cô Yếm Thắm bị distortion hơi nhiều.
Đã ra: Quê Hương Qua Ống Kính tập 1 , 2, 3, 4, 5 và 6, Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng, Mùa Nước Lũ (Truyện tình trên quê hương), Về Nhiếp Ảnh, Thăng Trầm (chuyện buồn vui một đời người), sách dày trên 200 trang, mỗi tác phẩm đều có nhiều phụ bản ảnh màu (20$ một cuốn + 3$ cước phí).
Liên lạc: Tran Cong Nhung P.O.Box 2197. Hawthorne, CA 90250. Tel.(310)848-9939 Email:trancongnhung@yahoo.com, Web:www.ltcn.net

**************************

source

Vien Dong Daily

Vịnh Bái Tử Long


Cập nhật lúc 1:52:09 AM - 30/11/2006

(Bài và ảnh Trần Công Nhung)
A_vinh-btl-1.jpgTheo dự tính, hôm sau mới đi Hạ Long, nhưng do cảm hứng bất chợt tôi đã gọi người bạn ảnh địa phương đi ngay sau buổi thăm làng lụa Vạn Phúc (1). Hạ Long cách Hà Nội chừng 160 km, chúng tôi khởi hành lúc 12 giờ trưa. Đường khá tốt nhưng xe chạy nhanh lắm cũng chỉ 50 km giờ. Đến Bãi Cháy thì trời bổng trong sáng lên. Mấy hôm nay trời âm u vì có gió mùa đông bắc. Du thuyền đưa khách đi chơi đảo đã bắt đầu về bến. Chúng tôi ra thẳng bến phà Quảng Ninh rồi qua bán đảo bên kia.


Anh Thái, người bạn ảnh Hà Nội, anh đã chụp ảnh Hạ Long nhiều lần, tưởng không còn gì lôi cuốn nữa, nhưng hôm nay nắng quá đẹp nên anh hăng hái hướng dẫn tôi. Anh nói :

- Tôi không ngờ hôm nay trời đẹp thế. Anh hên lắm. Nhiều anh em trong Nam ra cả tuần lễ chẳng làm ăn gì được.

- Anh à, tôi tưởng mình đi tàu ra đảo chứ ?

- Cái đó để sáng mai. Đi đảo là phải từ sáng sớm mới kịp. Giờ mình qua bên kia rồi leo lên núi Bài Thơ.

Anh vừa nói vừa chỉ cho tôi đỉnh núi cao sừng sững trước mặt. Tôi hơi lo, không biết có lên nổi không. Năm ngoái leo núi chùa Thầy đã đuối nay thấy vậy đâm ngán. Lại không hiểu lên đó rồi chụp cái gì. Tôi đang phân vân thì anh Thái nói tiếp:

- Ở trên đỉnh núi anh nhìn xuống mới thấy cái đẹp tuyệt vời và vẻ kỳ vĩ của vịnh Bái Tử Long.A_vinh-btl-2.jpg

- Đường lên có dễ không anh ?

- Xưa thì gay lắm, nay người ta đã làm tam cấp, không khó, chỉ dốc thôi.

- Mất bao lâu để lên đỉnh?

- Ngày trước tôi leo 30 phút nay phải 45 phút.

- Nay đường dễ sao lại lâu ?

- Dễ nhưng mình già, yếu đi. Đến Hạ Long mà không lên núi Bài Thơ thì kể như chưa biết Hạ Long. Chỉ sợ lên đến nơi trời còn nắng hay không.

Tuy hơi e ngại nhưng lại được kích thích qua lời mô tả của anh Thái nên trởn hăng hái hơn. Đã đi tìm cái đẹp của vạn vật thì “khó khăn nào cũng vượt qua”. Phà cập bến chúng tôi vội đi ngay. Anh Thái nhìn đồng hồ trấn an :

- Mới 3 giờ rưỡi, 4 rưỡi vẫn còn nắng.

Anh dẫn tôi qua một đoạn phố rồi rẽ vào hẻm sau lưng ngôi nhà sát chân núi. Tôi lấy làm lạ, nhưng không hỏi, cứ men theo lối đi càng lúc càng hẹp như đường mòn trong rừng. Lối mòn dẫn dần lên núi. Sao một thắng cảnh nổi tiếng mà lại đi kiểu lạ vầy. Lại nghi ngờ.

Càng lúc càn lên cao, tôi cố giữ nhịp thở thật đều và xem như đây là một buổi đi tập hằng ngày. Mỗi ngày tôi mang ba lô máy đi bộ 5 khu phố khoảng nửa tiếng, nay phải leo tam cấp hẳn là vất vả hơn, song nghĩ mình sẽ được lên “tiên giới” nên lòng hăng lắm. Anh Thái đi trước, lâu lâu nhắc chừng: "Mệt thì nghỉ nhé". Mười lăm phút đầu, "đường lên tiên" có vẻ dễ chịu, cứ mỗi mươi lăm bậc lại có một khoảng đường bằng, sau đó thì cứ dốc đứng mà leo. Có lúc người trước phải kéo người sau. Tôi nghĩ thầm, vầy mà núi bài thơ! Bài thở thì có, thở muốn hết hơi chứ thơ thẩn gì. Mệt quá tôi hỏi vói lên:

- Đã được nửa đường chưa anh Thái?

- Chưa đâu, nhưng lên một đoạn nữa anh sẽ thấy cái đẹp hoành tráng của Bái Tử Long. Theo truyền thuyết, một thời xa xưa, Việt Nam bị giặc ngoại xâm, Trời sai một Rồng mẹ và đàn Rồng con xuống giúp. Rồng phun ra hàng ngàn châu ngọc (đảo) làm bức trường thành (hay công sư)ï chận đứng quân xâm lăng. Chỗ Rồng mẹ xuống gọi là Hạ Long, chỗ Rồng con xuống gọi là Bái Tử Long.

Nghe mô tả tôi lại được kích thích thêm. Trời còn nắng to. Bụng bảo dạ: "Đời có một lần thì ngại chi chuyện khó khăn". Đã trót yêu nên:

Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua.

Ít phút sau tôi nghe tiếng anh Thái vọng xuống :

- Ở đây anh đã có thể bấm được rồi.

Đúng vậy, lên một đoạn đến tảng đá bằng, nhìn xuống sườn núi bên trái, một vùng biển bao la xanh ngắt với hàng chục hòn đảo mở ra trước mắt tôi. Đảo lớn đảo nhỏ nối tiếp, quanh co kết thành eo vịnh quá tuyệt vời. Đảo nhìn từ trên cao khác hẳn, ở dưới đất hay ngồi thuyền chỉ thấy một mặt ngang, một đường răng cưa, không có những đường nét uyển chuyển lạ lùng như đứng nơi đây. Tôi sững sờ và không còn thấy mệt nữa. Tôi lôi máy ra, tìm cách tránh mấy chòm lau trước mặt thì lại nghe tiếng gọi:

- Chỗ này còn hay hơn.

Tôi nghĩ, anh này có đọc kinh Pháp Hoa hay sao mà cứ làm theo lối "Hóa Thành Dụ". Tôi nghĩ bụng, đã lên đến đây thì chỗ nào cũng hay cả. Tôi bình tĩnh chụp, chụp thật nhiều, “thà dư chứ không bỏ sót”. Lại có tiếng kêu:

Trên này hay hơn anh Nhung ơi.

Đúng là càng lên cảnh càng đẹp, càng tráng lệ hùng vĩ hơn. Cứ lên vài bậc cấp tôi lại dừng chụp, "gỡ vốn trước cho chắc ăn", lỡ đến nơi trời có hết nắng thì cũng không lỗ. Nắng lúc này sao mà đẹp, ánh nắng làm cho cảnh trí thêm ấm áp đậm đà thật duyên dáng.

Tôi gọi vói lên:

- Gần đến chưa?

- Đến rồi.

A_vinh-btl-3.jpg Tôi thở phào và khỏe như vừa bơi từ ngoài biển xa vào bờ. Đứng trên đỉnh núi Bài Thơ, bao quát hết cả vùng biển từ trong Bãi Cháy ra tận phía bắc tỉnh Quảng Ninh. Đẹp ôi là đẹp, nhất là vùng vịnh Bái Tử Long. Những đảo lớn nhỏ cao thấp được bài trí một cách vô cùng nghệ thuật. Trời nước liền một màu xanh sương mù. Nắng chiều xiên khoai làm cho đảo xanh nhuốm ít vàng, cảnh trở nên thần tiên, người có cảm giác như vừa được rửa sạch mọi khổ ải trần ai. Một đời mà được lên đây một lần cũng mãn nguyện rồi, mà chắc đã mấy ai.. Núi Bài Thơ, quả là lai láng hồn thơ cho những ai làm thi sĩ.

Trời còn nắng, ánh sáng tuyệt vời. Với ống kính tiêu cự 28-105 quét đi quét lại trong giác độ chừng 60. Chụp rồi mà tưởng như chưa, ngắm cả buổi mà tưởng như mới gặp mấy giây. Lòng đã thỏa mà tình còn lưu luyến mãi. Nắng dịu dần rồi chuyển qua ánh hoàng hôn. Trong khi ngồi nghỉ, tôi nói đùa:

Anh Thái à, leo núi thở hết hơi mà có thấy thơ đâu.

- Có bài thơ thật đấy, nếu đi thuyền từ ngoài biển nhìn vào trên vách núi có khắc bài thơ của vua Lê Thánh Tông.

Thật thế?

- Vâng, thực thì tên núi là Truyền Đăng, vào năm 1468 vua Lê Thánh Tông đi kinh lý vùng Đông Bắc, trong lúc dừng chân trên vịnh Hạ Long, ngay chân núi này, cảnh đẹp khiến nhà Vua xúc động làm bài thơ khắc trên vách đá mỗi chiều dài 1m50, từ đó có tên núi Bài Thơ. Nghe nói về sau An Đô Vương cũng có bài thơ trên núi này.

Mặt trời đỏ ối trên biển, chúng tôi chụp mấy kiểu cuối cùng rồi bắt đầu xuống núi. Xuống tất nhiên nhanh và không phải cố gắng gì.

Đêm đó chúng tôi nghỉ lại một khách sạn trong Bãi Cháy. Anh Thái đã kể cho nghe:

Mấy năm về trước tự nhiên anh nghĩ đến đỉnh núi Bài Thơ, anh nhớ năm (...) đã cắm cờ trên đỉnh núi, vậy tất có đường lên. Anh đã mò tìm ra đường leo lên đỉnh, tuy núi chỉ cao 106m, nhưng hồi đó khó khăn lắm, phải măn từng tảng đá, cheo leo nguy hiểm vô cùng. Sau khi anh cho ra tác phẩm đầu tiên về Bái Tử Long, làng ảnh xôn xao và thiên hạ tủa ra đi tìm. Mấy năm liền anh được tiền nhuận ảnh mỗi mùa in lịch khá bộn. Riêng đài (...), dùng ảnh của anh trong mục điểm thời tiết thì đến nay vẫn chưa cho anh xu nào.

Núi Bài Thơ là nơi lý tưởng để nhìn xuống Bãi Cháy, nhìn xuống vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long, để thấy hết vẻ đẹp vùng vịnh độc đáo của Việt Nam, đã được Unesco thừa nhận như di sản thế giới. Tuy nhiên về phương diện du lịch chưa có hoạch định mở mang khai thác, để không chỉ hấp dẫn người nước ngoài mà dân trong nước cũng có dịp biết thêm vẻ đẹp quê hương mình.

Trần Công Nhung (Tháng Ba - 2002)

( 1) QHQOK 1

*********************

source

Vien Dong Daily

Sapa trong mưa mù


Cập nhật lúc 10:29:36 PM - 17/11/2006

Bài và ảnh Trần Công Nhung

sapa-1SFW.gif(Một mái ngói ẩn hiện trong lớp mây mù trắng đục)

Lào cai - Sapa, khoảng 30km, khi xe lên lưng chừng độ cao, thời tiết bắt đầu thay đổi: Mưa lất phất, người lái xe cho biết năm nay Sapa không rét nhưng mưa và sương mù nhiều.


“Sapa mưa thì hơi phí”, tôi thầm nghĩ như vậy. Bao nhiêu lần rồi, đến Sapa, trời quang mây tạnh, ghi lại hình ảnh những chân dung, những sinh hoạt của người “dân tộc” mới tuyệt. Mưa mù thì còn gì! Tuy nhiên đoạn đèo về gần Sapa lại đẹp, mây trắng trải dài sau từng lớp sương chỗ mỏng chỗ dày, đường đèo quanh co, hay lắm. Tôi lấy máy chụp, anh Tây ngồi cạnh cũng bắt chước, nhưng máy anh để ISO 100 thì làm sao bắt được. Tôi hy vọng trời Sapa sẽ khá hơn.

Xe xuống đèo về thị trấn trời lại tối sầm, mưa nặng hơn. Trung tâm thị trấn nay khác hẳn, có hồ nước thay công viên, nhiều tòa nhà hai tầng mái ngói mới, cảnh trí mang nét văn minh của phố thị.

sapa-2SFW.gifTôi vào Mountain View Hotel (khách sạn Ninh Hồng, nơi tôi thường ở mỗi lần về Sapa. Nhận phòng mà không hăm hở như mọi khi, nhưng cũng hên, phòng 202 khách vừa trả.

Mountain View, đúng như tên gọi nhưng chỉ những phòng 102, 202, 302, mới có được tầm nhìn ra dãy Fansipan cao sừng sững (trên 3000m) như một trường thành xanh thẫm, sáng chiều mây trôi lãng đãng, gợi cho khách du cảm giác phiêu bồng.

Đặt tất cả hành trang trên giường, mở cửa ra hiên, tôi rất đỗi ngạc nhiên, cảnh đẹp quá, cảnh núi đồi trong mưa mù, tôi chưa từng gặp bao giờ. Tôi vui hẳn lên, tôi gọi một tách cà phê rồi mang máy ảnh ra ngắm cảnh đồi núi đổi thay từng chặp.

Mây và mù bay qua, không nhanh lắm, trước mắt tôi là một màn ảnh “đại vĩ tuyến”, đỉnh Fansipan thấp thoáng trên trời cao. Mù và mây cũng xuống sát thung lũng, làm cho cảnh vật trở nên mộng ảo, những đám nhà tôn, nhà lá lụp xụp, quanh rìa thị trấn đã bị xóa mờ, cảnh chỉ còn là tranh vẽ. Phía dưới thung lũng một mái ngói ẩn hiện trong lớp mây trắng đục, sau xa là một mảng núi xanh, đỉnh núi trong mây không biết đâu là giới hạn chẳng gần chẳng xa, chẳng cao chẳng thấp. Sương dày kéo qua nhiều đợt, mình có cảm tưởng như đang nhìn từ trên máy bay.

Nhâm nhi cạn tách cà phê tôi thả bộ xuống phố Cầu Mây. Đứng ngay bậc thềm khách sạn nhìn ra ngã ba, nhiều hoạt cảnh cũng bắt mắt. Mấy chiếc xe khách vừa dừng, bao nhiêu người bu lại: Tiếp viên khách sạn chào mời, mấy cô H'Mong cũng tíu tít, khách bước xuống chả biết theo ai, họ chỉ cười cười. Ngoài ngã ba từng tốp người “dân tộc”, che dù, mang gùi hoặc gùi con nhỏ sau lưng, gió mưa rét thế, không biết mua bán được gì. Tôi chụp thật sướng tay, những chị H'Mong che dù, rảo lên rảo xuống con phố nhập nhòa trong mưa. Một cô du khách áo đỏ kéo chiếc valise, đi trong sương mù, mờ mờ tỏ tỏ sao hay thế, chụp rồi tưởng chưa chụp. Ngược lên đầu dốc phố nhìn xuống, cảnh càng hay hơn. Có hai bà H'Mong, soạn hàng trước thềm một khách sạn, tôi đưa máy lên ngắm, các bà cự nự, tôi phải giả cáu nạt cho mấy tiếng mới yên. Con phố này trong mưa mù ngắn hẳn lại, nhìn xuống không thấy các khách sạn như ngày thường, chỉ một đoạn nhà cửa rồi tất cả chìm trong màn sương trắng đục. Lác đác những bóng người đi, đậm nhạt, đẹp, ảnh chụp hiện trên màn hình có cái “mood” lung linh ảo ảo. Không ai chụp ảnh theo tôi, những lần trước, mấy anh Tây, thấy tôi chụp gì họ chụp nấy. Phố Cầu Mây hôm nay sạch sẽ mơ màng, bao nhiêu luộm thuộm thừa thãi chìm hết trong mưa mù. Ở một góc phố hai anh “dân tộc” châu đầu bật quẹt mồi thuốc,sapa-3SFW.gif ánh lửa đỏ hẳn lên, một tác phẩm đời thường ít có.

Lên tuốt trên ngã ba nhìn qua nhà thờ Sapa, chóp giáo đường hiện ở tầng cao, ôi thánh thiện. Hai người đàn bà che dù đang lần bước, không nghe tiếng chuông giáo đường, mà hình như có tiếng kinh cầu trong thinh không êm ắng.

Tôi xuống chợ Sapa, ngày thường chợ Sapa không có gì đặc sắc, thịt cá rau hành, thứ gì cũng bày ra rõ rệt, hôm nay, cảnh chợ lại mang vẻ bồng bềnh, thứ có thứ không, tất cả nhẹ hẳn đi.

Trời lành lạnh, mưa lâm râm, sương mù vẫn nặng xuống, nhưng tôi thấy rất hứng khởi, thả bộ nơi này qua nơi kia, lên xuống nhiều dốc, nhiều bậc cấp mà ngày thường nắng ráo rất ngại đi.

Thì ra Sapa không chỉ đẹp lúc trời trong nắng ấm, lúc hội hè lễ lạt, mà cả khi gió rét mưa bay cũng tuyệt vời, cũng cho nhiều hình ảnh không dễ kiếm dễ tìm.

Trần Công Nhung (Tháng Hai - 2006)

Thư độc giả

“Anh nói giùm một câu”

Mọi thứ tôi làm đều do chơi mà ra, nhưng bạn bè người quen lại cho là nghề nghiệp. Vì thế lắm lúc không tránh được “tai nạn”. Mỗi lần đến Pharmacy mua thuốc là mỗi lần “mắc nạn”. Hồi mới qua chưa quen đường, cũng may có tiệm thuốc Tây của người Việt gần nhà, đi về chỉ mấy phút nhưng cái ông Pharmacist này chậm chưa từng thấy. Toa thuốc chỉ vài ba món mà đợi có khi cả tiếng đồng hồ. Khi quen rồi lại mất thêm khoản chuyện trò loanh quanh: “Nghe nói anh có vườn kiểng đẹp, hôm nào vợ chồng tôi phải đến xem mới được”. Nói thế chứ có bao giờ đến đâu, hết kiểng hỏi qua lan.. sốt ruột mà chẳng hứng thú gì. Một thời gian có người giới thiệu cho một chỗ: “Chỗ này nhanh lắm chỉ 10 phút ông có thuốc ngay”. Đúng như vậy, ông Pharmacist này cũng làm đủ các “thủ tục” mà sao nhanh thế. Vừa trả lời phone vừa gõ computer, hay soạn thuốc. Có khi chỉ 5 phút đã có thuốc cho khách ra về. khách mua thuốc vùng anh toàn Mễ và là khách lâu năm, có khi bệnh nhân chưa đến nhưng văn phòng bác sĩ đã gọi phone báo tên người bệnh và toa thuốc, nhờ vậy anh làm trước, khách đến chỉ ký nhận. Vì không tâm sự được với khách Mễ nên tôi trở thành nạn nhân nghe chuyện anh. Chuyện của anh có tính văn nghệ hơn, anh hay nhắc đến nhà văn Võ Phiến, nhiếp ảnh gia Lê Anh Tài, anh hỏi về tác phẩm này tác phẩm kia, kà kê dê ngỗng rồi kết luận: “Ông nhận xét thế nào”. Tôi chỉ muốn nói: “Ông đưa thuốc cho tôi về”. Thời gian sau, tôi thấy quá mất thì giờ với ông thuốc Tây này, có người chỉ cho một Pharmacy gần hơn, bà dược sĩ này, ăn nói lưu loát, nhanh nhẹn, chỉ trong vòng 15 phút là có thuốc. Thế mà một hôm tôi phải mất gần cả tiếng đồng hồ vì phải nghe bao nhiêu chuyện riêng tư. Có lúc tôi vói tay vào trong quầy lấy thuốc để về, bà giữ lại : “Anh nói giùm tôi một câu”, bà muốn tôi kết luận về chuyện bà than phiền đức lang quân. Bà bảo ông vô tích sự để bà làm hết bao nhiêu việc, coi bà như Super woman.

“Anh nói giùm một câu”, “Ông nhận xét thế nào”, “Tôi nghĩ thế đúng không?”…Hóa ra ai cũng cần thông cảm, cần chia sẻ, dù chỉ một câu…

Thông cảm hay tương tri như có lần tôi đã thưa là chuyện rất cần cho đời sống, nó khích lệ vỗ về và làm ấm lòng những khi cô quạnh. Nhưng, “chia sẻ kiểu “sa đà” lại sinh ra phiền hà bất tiện. Trong khi tay chân đang dở việc mà cứ phải dính cứng vào chuyện đâu đâu thì cũng khổ tâm, lúc ấy chuyện “tâm sự” hóa ra hư sự. Đã có một độc giả bất bình khi tôi phải xin phép ngưng phone, phone có thể giả vờ để cúp chứ đối mặt nhau thì nỡ nào chặn đứng dòng tâm từa

Tình đồng hương nơi đất khách quê người nó đậm đà dạt dào là thế!

Thư đã nhận: Ông Chau Hoa (W. Covina), anh Quy Tran (Fremont), ông Nguyễn M Hùng (Canoga Park) đã gửi sách đầy đủ theo yêu cầu của quí vị. Xin cảm ơn.

Cáo lỗi: Trong thời gian tôi vắng nhà, rất nhiều độc giả gọi phone để lại lời nhắn, do người nhà sơ ý đã không trả lời. Mong quí vị thông cảm bỏ qua cho.

Đã in: Quê Hương Qua Ống Kính tập 1 , 2, 3 , 4 và 5, Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng, Mùa Nước Lũ (Truyện tình trên quê hương), Về Nhiếp AƯnh, Thăng Trầm (chuyện buồn vui một đời người), sách dày trên 200 trang, mỗi tác phẩm đều có nhiều phụ bản ảnh màu (20$ một cuốn + 3$ cước phí)

Liên lạc: Tran Cong Nhung P.O.Box 2197. Hawthorne, CA 90250 . Tel.(310)848-9939 Email:trancongnhung@yahoo.com, Web:www.ltcn.net

QHQOK tập 6 đang chuẩn bị đưa in, mời quí độc giả order, ấn phí như thường lệ.

***************************

source

Vien Dong Daily

Phố Hội (Kỳ 2)



Cập nhật lúc 3:59:10 AM - 25/10/2009

236h1.jpg


Đêm đèn lồng


Bài và ảnh: Trần Công Nhung

Hội An xưa nay nổi tiếng món Cao Lầu. Tôi vào một quán cách đó không xa. Quê hương bé nhỏ, con người bé nhỏ ...thứ gì cũng bé cũng xinh, nên tô mì tô phở cũng chỉ lớn hơn bát ăn cơm một tí. Không có tô nhỏ, tô trung, không xe lửa, không hàng không mẫu hạm...quê hương chỉ có thế, chỉ bấy nhiêu...Dù vậy tôi cũng cảm thấy thú vị khi được hưởng cái phong cách bình dị trong quán hàng Việt Nam.


236h2.jpg


Chùa Cầu


Một cảnh đẹp của quê nhà, rất Việt Nam mà từ lâu tôi mơ ước có một tấm hình, nhưng đến nay vẫn còn là ước mơ: Cảnh kéo rớ trên sông. Tôi vòng xuống phía dưới chợ Hội An, qua cầu Cẩm Nam. Chiếc cầu xây lúc nào không biết, vào thập kỷ 50 thì chưa có. Đến giữa cầu tôi lấy máy, đặt lên chân ba càng (tripod), với ống kính Tele zoom 80-200, tôi rà máy theo hoạt động của mấy chiếc rớ như thuyền trưởng của một tiềm thủy đỉnh theo dõi mục tiêu trong viễn vọng kính. Cách mười lăm phút, lưới được kéo lên một lần. Màu rớ vàng tơ, óng ánh những giọt nước, tuy đứng khá xa nhưng khi rớ từ từ lên khỏi mặt sông, dường như tôi nghe rõ tiếng nước nhỏ giọt như tiếng mưa rơi. Chỉ một lát, khách đi đường dừng lại bao quanh tôi. Họ nhìn tôi rồi nhìn ra sông nơi có mấy chiếc rớ. Bấm mấy cái thấy đã đủ, song trước sự tò mò của bao nhiêu người, tôi lại hứng chí nổ thêm mấy phát nữa để gọi là đãi khách. Mấy miếng film thì có là bao. Tiếng máy nhảy xạch xạch, khách tỏ vẻ khóai chí. Một chị người Tây đứng cạnh, nhìn tôi cười như muốn nói chuyện. Tôi gợi trước:

- Sao, chị thấy hình ảnh này có đẹp không ?

Người đàn bà cười cởi mở:

- Đẹp, đẹp lắm và lạ nữa.

Tôi lại muốn tán một câu: “Nhưng không đẹp bằng chị”.

- Một lối đánh cá đặc biệt của xứ tôi.

- Bắt cá dễ dàng thật.

- Không phải dễ mà "thanh bình và dân chủ".

- Anh nói vậy có nghĩa gì ?

- Chị có thấy người ngư phủ ngồi chơi hút thuốc lá trên cái chòi nhỏ kia không? Anh ta không hề bận rộn bao vây, lùa cá, không dùng thuốc nổ...không màng đến bất cứ một phương tiện khoa học hiện đại nào cả. Anh để cho cá tự do lựa chọn, muốn anh bắt thì vào lưới nằm, không muốn thì đi chỗ khác.

Chị Tây cười vui vẻ hỏi lại:

- Cá vào trong lưới rồi muốn trở ra được không?

- Được chứ. Chị từ đâu đến ?

- Tôi ở Mỹ.

- Tiểu bang nào ?

- New York.

- Còn tôi ở Cali, Los Angeles.

Chị Mỹ reo lên "thế à" và tỏ ra thân mật hơn. Bao nhiêu người bu lại quanh chúng tôi như cùng tham gia vào câu chuyện. Tôi không thấy có gì rắc rối, không ai hạch hỏi gì cả. Lại nhớ cảnh cũng như vầy năm (...), hồi đó có lần tôi đứng chụp ảnh trên cầu Hà Ra (Nha Trang), vừa mới đặt máy ngắm, đã có (...) đến:

- (...) công tác ở cơ quan nào ?

- Tôi chả công tác cơ quan nào, tôi dạy học. (tôi tưởng cơ quan là dành cho hành chánh).

- (...) dùng máy ảnh có giấy phép không?

- Giấy phép? Sao lại phải giấy phép ? Ai cấp?

- (...) cấp, anh không thể tùy tiện dùng máy ảnh.

Nghe mà muốn phát cáu. Tôi cứ thẳng thừng đáp:

- Trong Miền Nam người ta dùng máy ảnh như dùng bút máy. Chẳng phải giấy tờ gì lôi thôi.

Thấy mấy anh (...) cố tìm cách gây sự tôi vội nói tiếp:

- Tuy không có giấy phép nhưng tôi có thẻ hội viên. Tôi móc bóp đưa cái thẻ của Hoàng Gia Anh Quốc, anh công an cầm tấm giấy màu xanh toàn chữ ăng lê, nhìn một lúc rồi trả lại:

- Khẩn trương lên, kẻo đồng bào tụ tập đến bây giờ.


236h3.jpg


Nhìn vào phố Hội An


Hội An tuy trẹo đường, song du khách lại đông. Có thể nói phố xá luôn luôn như ngày hội. Có thể do phạm vi Phố Hội không rộng, chỉ mấy con đường, đường dài nhất chưa tới một dặm (mile).


236h5.jpg


Nhìn qua An Hội


Nhưng đúng là khách nước ngoài đến đây nhiều hơn nơi nào hết. Tôi có cảm tưởng người ngọai quốc biết rõ Hội An hơn người trong nước. Họ ăn mặc theo cách của họ, nghĩa là rất mát mẻ. Các cụ ngày trước mà thấy chắc phải la làng. Bây giờ dân mình cho đó là tự nhiên và nhiều người, nhất là giới trẻ cũng hòa nhập theo, nên sự cách biệt phong tục không còn ai nói đến nữa.


236h6.jpg


Phố cổ


Ban đêm mới là đẹp, những nhà làm đèn lồng được khách đặc biệt chú ý. Không biết du khách có lấy làm lạ về nếp sống của người Việt? Buôn bán, ăn ở, chung một nơi. Không tách riêng biệt như Âu Mỹ. Ngay cửa ra vào, vừa bán hàng, vừa làm việc linh tinh bếp núc.

Mỗi tháng, vào đêm 14 âm lịch, toàn thành phố không có đèn đường, nhà nhà đều treo đèn lồng trước hiên, thành phố trở nên lung linh mộng ảo. Về đêm, khách dồn ra đường Bạch Đằng ở đoạn rẽ qua Chùa Cầu, có nhà hàng nổi, đèn màu soi bóng như cảnh thần tiên.


236h4.jpg


Hàng điểm tâm


Tôi chọn một bàn "cafe lưu động" ở mé sông. Hơi nước từ mặt sông Thu Bồn tỏa lên mát như máy lạnh. Tôi lắng nghe xem có tiếng hàng rong trên sông như nhà văn Nguyễn Tuân tả mấy mươi năm về trước? Dòng sông tối om, lung linh ánh đèn nhà hàng nổi bên Cẩm Nam. Tiếng gió nhẹ và tiếng lao xao nước vỗ vào bờ. Bất chợt tôi quay về một thời quá khứ khá xa. Nơi đây, tại căn nhà phía bên kia đường, có một loài Hoa Nở Về Đêm. Chính khúc sông này đã có một người ngồi thuyền gởi cho Hoa qua tiếng sáo trúc, bài Em Tôi của Lê Trạch Lựu vào mỗi tối thứ bảy ..... Một chuyện tình Trương Chi, lãng mạn kiểu "Tự Lực Văn Đoàn" mà ngày nay chắc không ai còn có thì giờ để nghĩ tới...Câu kết của bài Em Tôi :"Đường đời tôi muốn Em còn mơ..." Và Em đã mơ, Em mơ những mấy tầng trời. Từ đó, người thổi sáo cũng bắt đầu một cuộc đời trôi dạt lênh đênh...


Trần Công Nhung

08-2001

******************

source

Vien Dong Daily

Phố Hội


Cập nhật lúc 2:24:37 AM - 17/10/2009



Bến chợ Hội An


Bài và ảnh: Trần Công Nhung


Hội An chẳng phải là chỗ chôn nhau cắt rốn, cũng không phải là nơi tôi có họ hàng ruột thịt. Nhưng, Phố Hội có cái gì đó ẩn khuất trong tôi. Du khách tìm về Hội An vì đây là thành phố được Unesco thừa nhận như một di sản cổ của thế giới, có thể nói là một kỳ quan. Riêng tôi, mơ hồ như nghe có tiếng nhắn nhủ từ những hình ảnh ngày xưa chưa nhòa.

Tàu vào ga Đà Nẵng khoảng xế trưa. Nhận chiếc Honda ra khỏi ga, tôi vội tìm đường về Hội An. Xa Đà Nẵng mấy mươi năm, nay cảnh đã đổi thay nhiều. Trong cái to lớn còn nhiều lộn xộn ô tạp. Đường đi Hội An có hai lối. Một ra Non Nước, một lên ngã ba đi Huế rồi ngược quốc lộ 1 vào Vĩnh Điện. Tôi đi theo con đường mới. Con đường không lớn, rất ít xe, thong dong ngắm cảnh hai bên đường. Những thửa ruộng lúa đang ướm vàng. Thời gian này trong Nam lúa đã về nhà, miền Trung mới bắt đầu gặt.

Chưa đầy một tiếng đồng hồ tôi đã đến thành phố cổ.


235h2.jpg


Quán tạp hóa


Tôi chạy một vòng xem qua phố phường rồi về phòng trọ, một khách sạn đang xây trên đường Phan Đình Phùng. Sau đó, túi xách trên vai, tôi thả bộ qua các phố. Không cần phương hướng. Lối nào thì cũng đáng ngắm đáng xem. Đường phố vẫn như xưa, hẹp tí, nhà cửa vẫn mái ngói âm dương cổ kính. Nhưng, vẻ náo họat của cuộc sống thị thành thì thấy rõ. Hội An không còn trầm lặng. Những con đường chính như Nguyễn Thái Học, Lê Lợi, Bạch Đằng, hầu như nhà nào cũng mở toang cửa. Du khách vào ra tấp nập.


235h3.jpg


Nữ sinh Hội An


Hội An ngày nay hoàn toàn sống bằng nghề phục vụ khách du lịch. Nhiều nhất là tranh, tranh do họa sĩ sáng tác hoặc chép lại. Tranh treo dít vách, tranh trải dưới nền nhà. Họ dùng ngay phòng trước của nhà ở để bày bán. Một số tranh của họa sĩ Bé Ký cũng được chép lại, nét vụng về thấy rõ. Tuy không có những "phố chuyên nghề" như Hàng Than, Hàng quạt, Hàng Đào.. ...của Hà Nội, nhưng các nghề gần như cũng tập trung vào từng khu phố. Đường Lê Lợi nhiều nhà làm đèn lồng, những chiếc đèn lồng bằng vải, nhẹ, xếp được, rất tiện cho du khách làm quà.


235h4.jpg


Phục vụ du khách


Phố Phan Chu Trinh thì chuyên hàng Điêu Khắc và thêu may. Những tượng gỗ nhỏ đơn giản như Bé Chăn Trâu, đến những tượng lớn đầy nghệ thuật như Thập Bát La Hán, được các nghệ nhân còn rất trẻ, chạm khắc tinh vi. Đường Bạch Đằng thì hầu hết bán đồ sành sứ giả cổ.

Đi du lịch như tôi có phần vất vả, mang theo người đủ thứ lỉnh kỉnh, và thường cản trở lưu thông mỗi khi đặt chân ba càng (tripod) ra đường. Có những hình ảnh mà nơi khác không có, không nỡ bỏ qua. Gian hàng làm đèn lồng, những chiếc đèn bằng vải màu. Hai màu vàng đỏ, vừa vương giả, vừa cổ kính mà hiền hòa. Hàng chữ Hán khắc lên ống tre cũng có nét hay: Phước Như Đông Hải hay Khang Thái Giai Lão Bách Niên...tìm nơi đâu có. ..? Chỉ có trên ống tre Hội An.


235h5.jpg


Phố cổ


Một hình ảnh vừa xưa cổ, vừa thôn quê cũng chỉ còn lại nơi đây: Một bà già móm mém nhai trầu ngồi bên gốc đa cổ thụ ngổn ngang những bình vôi ông lò, bày đôi ba cái mẹt bán trầu cau, nhang đèn. Đơn sơ giản dị như cuộc đời của bà. Bà ngồi từ sáng tới chiều, nắng cũng như mưa, không đòi hỏi không thở than.

Ngày nay dân số Hội An chắc đã tăng hơn xưa rất nhiều. Nhưng phố xá thì lưa thưa xe đạp, xe gắn máy, không ồn ào tấp nập như ở Sài Gòn. Phong tục đi bộ dưới lòng đường vẫn còn nguyên. Mấy mươi năm về trước, lúc mới tới Hội An lần đầu, tôi lấy làm lạ, sao lại cứ hàng ba, hàng bảy đi giữa đường. Hồi đó còn thanh niên, thích những mái tóc dài, những tà áo trắng tha thướt, nên lợi dụng bóp chuông chọc chơi. Bây giờ thì đi giữa lòng đường là cái "mốt". Không những đẹp mà còn cần thiết, một kiểu cách của Hội An. Từ trên một tòa nhà cao nhìn xuống, con phố vừa hẹp vừa quanh co, mái xanh rêu hay đen thẩm, loáng thóang cỏ mọc. Giữa đường đầy người đi bộ, cảnh thật thanh bình., không một thành phố nào có.


235h6.jpg


Chợ Hội An


Qua một hàng thêu tranh, tôi dừng lại nhìn bàn tay trắng nõn của cô gái đang kéo chỉ lên xuống đều đặn. Cô chú mục vào công việc, nhưng thấy tôi đứng hơi lâu, cô ngẩng lên, cười nhẹ như một lối thầm chào. Tôi cũng cười và hỏi thăm đôi câu.

- Tranh thêu bán có khá không hả cô?

Cô gái vẫn cúi xuống khung thêu, tiếp tục công việc:

- Dạ cũng được.

- Thường khách nước nào mua nhiều?

- Nói chung là khách nước ngoài chứ nước nào thì cháu chịu.

- Trung bình mỗi bức giá bao nhiêu?

- Dạ tùy theo kiểu mẫu, lớn nhỏ và nhiều màu hay ít.

- Chắc thợ thêu đều là người nhà?

- Dạ cũng có thợ ngoài nhưng người nhà là chủ yếu.

- Một tuần làm mấy ngày?

- Dạ ngày nào cũng làm.

Qua một gian hàng điêu khắc, một đám chừng mươi thanh thiếu niên, đang ngồi trệt giữa nền nhà, có em đánh trần, gò mình xuống, tay cầm dùi gỗ gõ đều đều lên đầu cán mũi chạm, tiếng vang cóc cóc như tiếng mõ trong chùa. Dường như đã quen với lối tò mò của khách, nên chẳng ai để ý sự hiện diện của tôi. Ngắm một lúc, tôi xin phép để chụp vài tấm ảnh. Bấy giờ các nghệ nhân như đồng loạt dừng công việc nhìn tôi, vừa ngạc nhiên vừa cười một cách dễ dãi. Ánh sáng hắt từ ngoài vào, tuy không yếu lắm nhưng tôi cũng rút ra mấy cây đèn cầy trong túi xách, đốt lên phụ họa vào, đồng thời tạo thêm nét cho bố cục ảnh.

- Các em cứ làm việc tự nhiên, đừng để ý gì đến chú.

- Em cúi xuống thêm chút nữa, tay trái cứ giữ yên mũi đục, tay phải gõ nhẹ.

Lúc bấy giờ dường như tôi cách ly hẳn với sinh hoạt đường phố ngay sau lưng. Quì người xuống, nhìn vào máy, tôi chỉ còn thấy hai cánh tay của người nghệ nhân trẻ tuổi đọng lại trong khoảng không gian khép kín của miếng phim. Âm thanh trong gian nhà nghe thật rõ, nghe như một loạt hàng chục tiếng mõ trong đục hòa nhau. Tôi thay máy và chụp nhiều lần, làm việc trong yên lặng. Tôi nghe rõ nhịp đập của trái tim mình. Chuyển qua một góc khác, tôi chỉ huy một người thợ trẻ, tôi bảo sao họ làm vậy. Lạ thay, không ai phản đối hay tỏ vẻ khó chịu. Tôi xếp máy đứng dậy:

- Cảm ơn các em thật nhiều, mời các em hút điếu thuốc.


235h7.jpg


Điêu khắc


Các nhà điêu khắc đồng loạt ngưng tay, nhìn bao thuốc "3 số" tôi đang cầm. Tôi phát mỗi em một điếu. Tôi biết như thế là phạm pháp. Hầu hết các nghệ nhân chưa quá 18 tuổi, tuổi không được mua rượu mua thuốc lá ở xứ Mỹ. Việt Nam được cái nổi tiếng về ăn chơi, không có luật hạn chế tuổi. Sau (...), cuộc sống trở nên khó khăn, miền quê còn cơ cực hơn trăm lần. Ngày đông tháng giá, lạnh cắt da, chỉ có điếu thuốc chống đỡ qua loa. Chuyện lao phổi vì hút thuốc là chuyện huyễn đối với dân nghèo. Mời các em hút thuốc là không nên, nhưng Mỹ khác, Việt khác. Nhập gia tùy tục, thiếu "hành động phạm pháp" này, tôi sẽ là người kém xã giao, không biết sống. Và còn mang tiếng Việt kiều keo, làm mất hương thơm của người Việt hải ngoại.

(Còn tiếp)


Trần Công Nhung

08-2001

******************

source

Vien Dong Daily

Chợ tình Khâu Vai



Cập nhật lúc 3:16:15 AM - 03/10/2009

233h1.jpg

Người sắc tộc vùng Đồng Văn

Bài và ảnh: Trần Công Nhung


Con đường ngang thị trấn Đồng Văn đã mấy năm vẫn không có gì khác. Quán cơm bình dân ngay lối vào bên hông chợ Đồng Văn vẫn như cũ. Ăn uống ở những nơi xa xôi rừng núi tưởng đắt đỏ, kỳ thực giá cả dễ chịu hơn dưới đồng bằng rất nhiều. Miền núi ít cá nhiều thịt, một đĩa thịt heo rim khô, một bát canh, một đĩa rau xào…đơn giản thế mà an toàn. Ăn xong chúng tôi ghé quán nước bên cạnh để có chỗ ngồi nghỉ một lúc, rồi mua các thứ cần thiết mang theo. Tôi hỏi người bán hàng:

- Chị biết từ đây đi Khâu Vai còn bao xa?

- Tầm tầm bốn mươi cây.

- Ở đấy có khách sạn, phòng trọ không chị?

- Có một nhà sàn dài, người ta cho thuê cứ mỗi chiếc chiếu 100 nghìn, nhưng nếu đến muộn thì cũng không còn chỗ. Tốt hơn, bác thuê khách sạn ở Mèo Vạc, ra đấy chơi đến khuya về lại, chứ ở đấy suốt đêm người ta hát xướng nghỉ thế nào được.

Ý kiến chị bán hàng hay lắm, tôi mua mấy hộp bánh khô, mấy chai nước rồi giục Thạch lên đường.

Chợ tình Khâu Vai phát xuất từ một huyền thoại nhưng đã tồn tại như chuyện đời thường, suốt dòng lịch sử của các bộ tộc Nùng và Dáy tận vùng cao heo hút huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang. Khâu Vai như nơi hẹn hò của “Ngưu Lang Chức Nữ” mỗi năm chỉ một lần. Nhà thơ Võ Sa Hà đã xót xa:


Đây là chỗ được em, được khóc

Đây là chỗ dành cho nước mắt

Chỉ có một đêm thôi,

Còn lại ba trăm sáu mươi tư

Em lại mím môi cắn nước mắt cho đời…

………………………………………………

Chợ tình thành biển nhớ biển đau

Ai đến đây mà chẳng có một đời dang dở phía sau…


Truyện kể rằng, ngày xưa có một chàng trai Nùng, tuấn tú khôi ngô, giỏi giang tốt bụng hay giúp người. Anh hát hay và thổi sáo giỏi, tiếng sáo réo rắt làm xiêu lòng nhiều cô gái cùng trang lứa. Bộ tộc Dáy, bản bên cạnh, có một cô con gái xinh đẹp nết na, ai cũng khen ngợi ngắm nghía. Nhiều Tộc Trưởng đến hỏi vợ cho con nhưng cô gái Dáy nhất mực không ưng. Cô chỉ mê tiếng sáo của chàng trai Nùng. Trớ trêu thay, gia đình nhà gái không bằng lòng cuộc hôn nhân, vì đàng trai quá nghèo lại thêm khác bộ tộc. Không lấy được nhau nhưng đôi trai tài gái sắc nhất quyết không xa nhau. Họ bỏ nhà trốn lên núi Khâu Vai. Thế là cuộc chiến giữa hai bộ tộc bùng nổ. Từ trên núi nhìn về, hai người thấy cảnh chém giết giữa hai bản làng, nguyên do chính vì họ mà ra. Để tránh chuyện đổ máu tiếp diễn, hai người đành đau đớn giã từ và hẹn đúng ngày này (27-3 âm lịch) năm sau gặp nhau nơi đây (1). Từ đó ngày hẹn hò của họ trở thành ngày tái ngộ của những ai từng lỡ duyên và cũng là ngày những người biết yêu đi tìm bạn.


233h2.jpg


Khu phố cổ tại Đồng Văn


Câu chuyện nghe thật đơn giản, trong xã hội Việt Nam ngày trước cũng không thiếu những mối tình như thế. Nhưng cái hay của Khâu Vai là người ta đã tạo ra một tục lệ, một truyền thống mang tính nhân bản thiêng liêng, một huyền thoại có sức thu hút người đủ chủng tộc, đủ lứa tuổi về dự hội mỗi năm. Hơn nữa, câu chuyện tình xẩy ra một nơi hẻo lánh xa xôi, tận địa giới biên thùy, càng thêm hấp dẫn.

Từ Đồng Văn đi Mèo Vạc toàn núi đá, đường chưa hoàn chỉnh, quanh co lên xuống chênh vênh núi đồi. Tuy khó đi nhưng không đến nỗi vất vả như đoạn đường hôm qua. Lúc chạy được 1/3 đường thì gặp một bảng áp-phít (affiche) vĩ đại tại một điểm cao: “Lễ hội chợ tình Khâu Vai”. Con đường từ đây về Mèo Vạc, ngoằn ngoèo như rắn bò, bên trái là vực sâu, thỉnh thoảng có khóm nhà tôn, trên cao nhìn xuống chẳng khác gì một tổ trứng màu xam xám. Không hiểu mùa mưa, nước lũ tràn về thì tránh làm sao. Vùng này núi vôi cao sừng sững, tạo thành vực sâu. Chỗ có con sông Nho Quế chảy về Mèo Vạc, vách đá dựng đứng hai bên, dòng sông xanh bé tí lượn quanh chân núi, sâu thăm thẳm, vĩ đại rợn người. Khoa học chinh phục được thiên nhiên, nhưng thiên nhiên có những công trình, con người khó lòng làm nổi. Nhìn vực thẳm với dòng sông mới biết mình quá vô nghĩa đối với vũ trụ bao la. Chưa thấy Mèo Vạc, chưa thấy Khâu Vai, chỉ thấy núi tiếp núi, con đường chỉ bạc lăng quăng vắt vẻo lên xuống theo triền. Núi không rừng, cây cỏ mịn như một lớp rêu, từng vạt bị cạo đi, màu xanh non vừa nhú, đấy là màu những khoảnh đất mới được gieo trồng. Bản năng sinh tồn giúp người miền núi vượt qua những khó khăn phi thường. Sườn núi gần như thẳng đứng, lên xuống đã vạn nan, nói chi cuốc xới trồng tỉa. So sánh công trình canh tác với sức người mới thấy đáng khâm phục sự chịu đựng dẻo dai của họ.


233h3.jpg


Giữa đường về Khâu Vai


Vượt qua mấy lần đèo, thị trấn Mèo Vạc hiện ra trước mặt tận dưới xa. Nhớ lời người đàn bà trong quán nước, chúng tôi chạy kiếm ngay nơi trọ. Mèo Vạc nhỏ hơn Đồng Văn, con đường chính có mấy khách sạn đều “cháy phòng”. Không ngờ người phương xa về đông như thế. Chạy vào những đường trong xóm, khách sạn cũng để bảng “hết phòng”. Mèo Vạc cũng đang ầm ĩ lễ hội chợ tình, thực ra nhân ngày hội Khâu Vai, Mèo Vạc cũng mở hội chợ để mua bán vui chơi. Đã hai giờ chiều, không còn cách nào, đành chạy thẳng về Khâu Vai.

Mèo Vạc Khâu Vai đường nhựa êm được 12 km, còn lại là đường đá sỏi gập ghềnh. Mấy lần lên dốc xuống đồi, tôi đã thấy Khâu Vai từ xa: Một dải nhà màu thẫm kéo dài theo hình chữ “y” trên lườn một ngọn núi oằn xuống như yên ngựa. Khoảng chừng hai ba chục mái nhà tôn xi măng mốc cũ, một vài nhà xây xen lẫn giữa những khóm tre xanh. Đặc biệt cả vùng núi này chỉ có ngọn đồi Khâu Vai là có bóng cây. Về đến Khâu Vai mới thấy chỉ phía lối vào mới tươi tốt hơn, mặt sau tiếp với đồi núi toàn màu vàng cháy khô cằn. Chung quanh triền đồi là vườn bậc thang mới làm đất, thấy rõ nét từng luống. Chợ Khâu Vai dù có màu xanh cũng không giấu được vẻ nghèo khó, khô cằn hiu quạnh. Mới 3 giờ chiều mà người đã lũ lượt đổ về vô số kể, tiếng ca nhạc trên loa vang vang, làm cho ai nấy đều náo nức. Vào cổng, xe gửi tại một bãi riêng ngoài xa. Con đường vào chợ bụi tung mịt mù theo bước chân người đi. Tôi lướt nhanh vào điểm trung tâm, nơi có sân khấu “Văn nghệ chợ” trên thềm cao. Tôi không hiểu ban tổ chức tiếc gì không thêm chữ “tình”. “Văn nghệ chợ” nghe có ý bình dân rẻ tiền.


233h4.jpg


Cheo leo đường đi chợ tình


Từ sân khấu nhìn ra mới thấy sự tấp nập ồn ào nhốn nháo của đoàn người trẫy hội tuôn vào liên tục. Nếu bảo đây là “chợ tình” thì không đúng, chợ tình mà trẻ em kéo nhau đi từng đám, chợ tình có cả ông già bà lão móm mém cũng đi. Chợ tình Khâu Vai, nhưng người Kinh nhiều hơn dân thiểu số… Người Kinh hay có thói quen huyền thoại hóa, thần thánh hóa và thi vị hóa những danh lam thắng cảnh, những tập tục hội hè truyền thống. Đó cũng là ý hướng muốn thăng hoa cuộc sống tinh thần, nhưng nếu quá đáng sẽ trở thành mê tín. Ngày lễ hội “chợ tình khâu vai cũng thế”. Nếu không biết qua về huyền thoại tình yêu của đôi trai Nùng gái Dáy thì ai cũng nghĩ đây là một ngày hội của các sắc tộc miền cao. (Còn tiếp)


Trần Công Nhung

04-2008

source
Vien Dong Daily

Tranh làng Sình



Cập nhật lúc 1:15:04 AM - 20/06/2009

217-h1.jpg


(Tranh làng Sình)

Bài và ảnh: Trần Công Nhung


Nhiều địa phương có những tên làng nghe thật lạ tai. Trong Nam từ Long An về miền Tây có Cái Bè, Cái Lậy, Cái Vồn, Cái Răng, Cái Khế, Cái Mơn…

Huế đặc biệt hơn, tên một chữ mà âm hưởng, ý nghĩa quá xa lạ nghe kỳ cục hết sức: Sình, Sịa, Nông, Truồi… ai mà hình dung được gì ở những địa phương như thế! Vậy mà Sình, một làng không xa thành phố Huế, đã nổi tiếng trong dòng văn hóa nghệ thuật dân gian: Làng Sình làm tranh cúng, tựa như tranh Hàng Trống của Hà Nội năm xưa.


217-h2.jpg


(Đò trên sông Hương)


Theo sử liệu, làng Sình nằm bên hữu ngạn sông Hương cách Huế chừng 7 cây số, được thành lập vào khoảng thế kỷ XV, đối diện bên kia sông là Thanh Hà, một cảng sông nổi tiếng thời các chúa Nguyễn Đàng Trong, sau này có phố Bao Vinh, đã một thời là trung tâm buôn bán sầm uất ở ngoại ô thành Huế. Bao Vinh ngày nay được xem như khu phố cổ, có chùa Sùng Hóa, một trong những chùa lớn nhất vùng Hóa Châu xưa. Ngang qua Bao Vinh ta có cảm tưởng như đang đi ở Hội An phố cổ.

Bao nhiêu năm sống ở Huế, sát bên làng Sình, suốt thời hoa niên mà tôi nào biết “tranh làng Sình”! Đến nay (2008) mới chợt nhận ra. Một người bạn sinh trưởng ở Huế khi nghe tôi hỏi cũng ú ớ không hơn gì, biết hướng “về Sình” nhưng chưa bao giờ đến và cũng chưa từng thấy tranh làng Sình. Nhờ thế, nghe tôi rủ, anh đi ngay. Hai anh em một xe máy chạy qua Vỹ Dạ, xuống ngả ba Tây Thượng, anh dừng lại hỏi làng Sình. Chẳng có gì rắc rối, đi thẳng về làng Lại Ân, chính là làng Sình, tên gọi xưa nay. Hỏi nhà làm tranh nổi tiếng, ai cũng chỉ nhà ông Kỳ Hữu Phước. Chúng tôi quanh co chạy ra con đường bờ sông, một bà giặt áo dưới bến chỉ cho nhà ông Phước ngay đầu ngõ phía dưới rẽ vào.

Đây rồi, căn nhà gạch lóc tường nham nhở không tô vôi, trước nhà có hàng rào chè tàu. Chè tàu là một loại cây hàng rào phổ biến ở Huế. Có người cho rằng nguyên thủy giống cây này theo người Tàu du nhập qua Việt Nam nên tên gọi như vậy. Chè tàu lá nhỏ, nhiều nhánh, cứng và sống lâu nên hầu hết dân Huế ai cũng trồng làm hàng rào. Miền Bắc có dâm bụt, nhưng dâm bụt chỉ được cái màu xanh, còn đẹp, bền, thì không bằng.

217-h3.jpg


(Phố Bao Vinh)


Khách vào đến thềm rồi mà nhà chẳng thấy ai. Kêu mãi mới có người đàn bà từ dưới nhà bếp bước ra. Bà cho biết ông Phước đang cuốc đất vườn sau, mời chúng tôi ngồi chờ bà đi gọi. Nhìn căn nhà gần như trống trơn, tôi thì thầm với người bạn: “Nghệ nhân nổi tiếng mà nghèo vậy sao” – “Tiếng rứa chớ có chi mô”. Ông Phước tuổi chừng trên 60, gầy đen nhưng khỏe. Có lẽ đã quen cảnh hỏi han thăm viếng chụp ảnh quay phim nên ông không tỏ ra ngỡ ngàng mà tự nhiên thân mật. Ông nói năng chậm rãi từ tốn hiền lành.

Sau màn xã giao tôi vào đề:

- Chúng tôi từ lâu nghe tiếng tranh làng Sình và nghệ nhân được đề cao là bác. Hôm nay xin đến thăm bác tìm hiểu thêm về nghề làm tranh, có chi phiền bác không?

- Dạ, cái nớ thì xưa chừ cũng nhiều báo đài đến phỏng vấn quay phim chụp hình. Tui thì không có chi trở ngại. Nhưng chừ thì kẹt, phải cuốc cho xong đám đất.

- Vậy xin lỗi bác, khi nào bác rảnh để tôi trở lại.

- Dạ mai sáng chừng chín mười giờ, để tui chuẩn bị các thứ : Tranh, màu, giấy cho mấy chú chụp hình, chừ răng kịp.

Tôi vui vẻ hỏi thêm một vài chuyện để chủ nhà yên lòng:

- Trước đây đã có nhiều báo chí viết về bác, bác còn giữ tài liệu đó không?

- Dạ còn, nhiều lắm.

- Vậy nhờ bác phô tô giùm, để mai tôi có làm tài liệu.

Vừa nói xong ông đứng dậy vào trong lôi ra mấy tập báo cũ, lật cho tôi xem qua mấy bài.

Tôi đưa một ít tiền cho ông Phước và hẹn 10 giờ sáng mai trở lại.

Nắng chiều đã dịu, cảnh làng quê yên ắng, dòng Hương Giang lững lờ, giá mà có con thuyền chèo qua với tiếng hò “mái đẩy” thì hay biết mấy. Sông Hương ngày nay không còn những con đò duyên dáng như xưa. Đò bây giờ trông như túp lều, đời sống vật chất đã biến đổi bao nhiêu phong tục thói lề.

Ngang qua Vỹ Dạ, tôi nói với bạn: “Mình kiếm cái gì ăn tối rồi về, nhưng xin đừng vào Quỳnh Hương nghe” (1). Người bạn hỏi lại: “Chừ anh muốn ăn chi? Bún, phở, bánh khoái, thứ chi”? Chúng tôi vào một quán phở. Phở thì không phải lo lắm, tránh ăn rau sống là yên tâm. Bánh phơ,û lượng formone có thể cao nhưng không ăn thường thì cũng chẳng thành vấn đề. Thực tình mà nói, trong một xứ sở khấp khểnh mọi mặt thì “có tránh vỏ dưa cũng gặp vỏ dừa”.

Sáng hôm sau, tôi qua chỗ văn phòng trung tâm luyện thi của anh bạn, trà nước một lúc lại kéo nhau đi ăn sáng. Tôi lại được hỏi “Chừ anh muốn ăn chi”, lại nhớ bún bò ớt dầm (4), tôi bàn xuôi: Trên đường về Sình, ngang qua Vỹ Dạ mình ăn bún. Trúng ý, anh đáp ngay: “Bún bò ớt dầm hí”. “Đất có lề, quê có thói”, không phê bình được kiểu cách ăn uống từng nơi, hay món ăn từng miền, đi lại nhiều, tôi đã quen, thứ gì không ăn được, cứ lẳng lặng bỏ ra, không phải thắc mắc. Mỗi lần về Vỹ Dạ tôi lại nhớ Hàn Mặc Tử, nhưng Vỹ Dạ ngày nay đã vắng bóng hàng cau, cũng khó tìm hình ảnh “hoa bắp lay”. Cồn Hến còn chè bắp, ruộng bắp vẫn xanh nhưng hình ảnh như Hàn Mặc Tử mô tả: “Dòng nước buồn hiu, hoa bắp lay” thì e khó. Sông Hương còn đâu thơ mộng khi vắng bóng những con đò xưa, thuyền rồng chạy máy xoành xoạch vội vàng đưa khách “tham quan” chứ làm gì có: “Thuyền ai đậu bến sông Trăng đó, Có chở khách về kịp tối nay”. Ôi, một thời hoa mộng!

217-h4.jpg


(Nghệ nhân K.H. Phước)


Lúc chúng tôi đến thì nghệ nhân Kỳ Hữu Phước đã sẵn sàng, ông chuẩn bị đủ các thứ để trình bày từng công đoạn về ngành tranh làng Sình. Theo ông Phước nghề làm tranh cúng có từ đời cụ Tổ Kỳ Hữu Hòa, cụ ở miền ngoài vào đất Thuận Hoá định cư, ông Kỳ Hữu Hoà mang theo nghề làm tranh giấy mộc bản, từ đó có tranh làng Sình. Ông Hoà được coi là ông tổ nghề tranh Sình, ông Phước là hậu duệ đời thứ 9. Đã chín đời sống chuyên một nghề, điều cũng hiếm có.

Tranh làng Sình từ đó lan ra cả làng, họ tự tìm tòi học hỏi với nhau chứ không do lớp hướng nghệ nào cả. Nghề làm tranh sống trong điều kiện hết sức eo hẹp chật vật nên không được phổ biến như những nghề khác, nhất là qua những giai đoạn đất nước đổi thay. Ông Phước ngậm ngùi kể lại việc làm tranh chui:

Sau (..), (...) cấm lưu hành những sản phẩm mê tín dị đoan, những tác phẩm đồi trụy do “địch” để lại. Tranh cúng bị loại trừ tuyệt đối, (...) đi từng nhà lục soát kiểm tra. Do đó gia đình ông phải đào hầm chôn dấu khuôn in cũng như lén lút làm tranh dưới hầm. Nghĩ đến công lao của cha ông, đã nhờ nghề của cha ông sống đến hôm nay nên không nỡ hủy bỏ những gì ông cha để lại. Mỗi khi chui xuống hầm làm tranh phải có người canh gác, sợ (...) đến bất thần. Hầm đào trong nhà, không được rộng rãi chắc chắn gì mà cả nhà chen chúc nào khuôn, nào mực, giấy… thật khổ hơn thời tản cư. Vì điều kiện làm tranh cực như vậy nên lắm lúc tranh nhòe, màu loang cũng đành chịu, không còn cách nào hơn. Người mua cũng phải chấp nhận, có là quí rồi. Làm nghề trong tình cảnh như thế gia đình ông Phước cũng không biết tương lai ra sao. Được ngày nào hay ngày đó.

(Còn tiếp)

Trần Công Nhung

6 - 2008

(1) Ngộ độc trang 179 QHQOK 7

(2) Một buổi sáng trang 117 QHQOK 8

Đã có QHQOK tập 9 (Sách đã gửi đến độc giả từ 17-6 ). Mỗi tập $20 (+$3 shipping). Quí độc giả nên có tập này để biết “Chợ tình Khâu Vai”, mỗi năm chỉ 1 ngày, có hàng ngàn người đua nhau về dự hội.

Sách đã in: Quê Hương Qua Ống Kính tập 1 đến tập 8, Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng, Mùa Nước Lũ (Truyện tình trên quê hương), Về Nhiếp Ảnh, Thăng Trầm (chuyện buồn vui một đời người), sách dày trên 200 trang, mỗi tác phẩm đều có 8 phụ bản ảnh màu đặc sắc và cả trăm ảnh đen trắng minh họa theo bài.

Liên lạc: Tran Cong Nhung, P.O. Box 254 Lawndale, CA 90260, phone: (310) 808-4563

Email: trancongnhung@yahoo.com, Web:www.ltcn.net.

*************************************************************

source

Vien Dong Daily